Quảng cáo
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Một nghệ sĩ chân chính là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (T.Sê khốp) bằng những trải nghiệm văn học của mình

    Trước những biến thiên của cuộc đời, văn học chưa bao giờ chỉ là tiếng nói của cái đẹp mà còn là tiếng nói của lòng nhân ái. Mỗi tác phẩm lớn đều bắt nguồn từ sự rung động sâu xa trước số phận con người. Bởi thế, nhà văn Sê-khốp khẳng định: “Một nghệ sĩ chân chính là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy.” Điều ấy được thể hiện rõ qua truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao.

    "Nghệ sĩ chân chính" là người sáng tạo bằng tài năng và trách nhiệm với cuộc đời; "nhà nhân đạo" là người biết yêu thương, trân trọng, bảo vệ con người; còn "từ trong cốt tủy" nhấn mạnh đó là phẩm chất bền vững, chi phối toàn bộ quá trình sáng tạo. Như vậy, Sê-khốp khẳng định lòng nhân đạo chính là cội nguồn làm nên tầm vóc của người nghệ sĩ.

    Trước hết, người nghệ sĩ phải mang trong mình tình yêu thương sâu sắc. Trong Lão Hạc, Nam Cao không chỉ kể về một người nông dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp của lòng tự trọng, tình phụ tử và nhân cách cao quý ở lão Hạc. Cái chết dữ dội của lão không nhằm gây bi lụy mà khiến người đọc thêm trân trọng phẩm giá con người. Tương tự, trong Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng lại khám phá vẻ đẹp thiêng liêng của tình cha con giữa khói lửa chiến tranh. Khác cách tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở tình yêu con người.

    Không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực, lòng nhân đạo còn giúp nhà văn cất lên tiếng nói bảo vệ con người. Nam Cao phơi bày xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng, đồng thời khẳng định vẻ đẹp bất diệt của nhân phẩm. Cũng như Kim Lân trong Vợ nhặt, giữa nạn đói khủng khiếp vẫn thắp lên niềm tin vào sự sống và khát vọng hạnh phúc.

    Chính tình yêu thương ấy tạo nên sức sống lâu bền của tác phẩm. Dẫu thời gian đổi thay, người đọc vẫn tìm thấy trong Lão Hạc bài học về lòng nhân ái, cũng như trong Bếp lửa của Bằng Việt là tình bà cháu ấm áp. Đề tài khác nhau nhưng đều sống mãi nhờ hướng tới con người.

    Tuy nhiên, lòng nhân đạo thôi chưa đủ, người nghệ sĩ còn cần tài năng nghệ thuật để biến tư tưởng nhân văn thành những hình tượng giàu sức lay động. Sứ mệnh của nhà văn là phát hiện và gìn giữ giá trị con người; còn bạn đọc cần tiếp nhận tác phẩm bằng sự đồng cảm. Đồng thời cũng phải thấy rằng, không phải mọi sự thương cảm đều tạo nên giá trị nhân đạo nếu thiếu niềm tin vào phẩm giá và khả năng vươn lên của con người.

    Có thể khẳng định, lời Sê-khốp là thước đo giá trị của văn học chân chính. Qua Lão Hạc, Nam Cao đã chứng minh rằng chỉ khi mang trong mình trái tim biết yêu thương cùng tài năng nghệ thuật đích thực, người nghệ sĩ mới có thể sáng tạo nên những tác phẩm vượt qua giới hạn thời gian, bền bỉ nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách con người.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Thơ ca là tiếng nói của trái tim người nghệ sĩ.” (T.Sê khốp) qua một tác phẩm thơ đã đọc hoặc đã học

    Từ thuở sơ khai, thơ ca đã trở thành nơi con người gửi gắm những rung động sâu kín nhất của tâm hồn. Nếu văn xuôi nghiêng về tái hiện hiện thực thì thơ lại là thế giới của cảm xúc, nơi mỗi câu chữ đều mang nhịp đập của trái tim người nghệ sĩ. Bởi vậy, ý kiến: “Thơ ca là tiếng nói của trái tim người nghệ sĩ” đã khẳng định đúng bản chất của thơ. Điều ấy được thể hiện rõ qua bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

    Thơ ca là thể loại giàu chất trữ tình, phản ánh cuộc sống bằng cảm xúc và suy tư. “Tiếng nói” là sự bộc lộ tình cảm, còn “trái tim người nghệ sĩ” là thế giới rung động trước con người và cuộc đời. Như vậy, ý kiến khẳng định thơ trước hết bắt nguồn từ những cảm xúc chân thành của nhà thơ. Quả thật, Đồng chí ra đời từ chính những trải nghiệm của Chính Hữu trong kháng chiến. Tình đồng đội được hình thành từ sự đồng cam cộng khổ và kết tinh trong câu thơ: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Đó không phải lời ca ngợi sáo rỗng mà là tiếng lòng chân thực của người trong cuộc. Nếu Chính Hữu viết về tình đồng chí thì Bếp lửa của Bằng Việt lại cất lên tình bà cháu thiêng liêng. Dẫu khác đối tượng biểu hiện, cả hai đều chứng minh thơ khởi nguồn từ sự rung động của trái tim.

    Tuy nhiên, cảm xúc trong thơ không phải sự bộc phát nhất thời mà đã được suy ngẫm và nghệ thuật hóa. Trong Đồng chí, những hình ảnh “áo rách vai”, “chân không giày”, “đầu súng trăng treo” vừa chân thực vừa giàu tính biểu tượng, làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường và lãng mạn của người lính. Tương tự, Sang thu của Hữu Thỉnh cũng không chỉ tả thiên nhiên mà còn gửi gắm suy ngẫm về sự trưởng thành của con người. Chính chiều sâu tư tưởng ấy khiến cảm xúc trong thơ có sức lan tỏa lâu bền.

    Điều làm Đồng chí sống mãi không chỉ là ngôn từ mộc mạc mà còn là tình cảm chân thành gửi đến người đọc. Nhiều thế hệ vẫn xúc động trước hình ảnh người lính đứng bên nhau giữa đêm phục kích: “Đầu súng trăng treo”. Cũng như Viếng lăng Bác lay động lòng người bằng niềm thành kính với Bác Hồ, Đồng chí khẳng định rằng khi trái tim nhà thơ gặp được sự đồng điệu nơi bạn đọc, thơ sẽ vượt qua giới hạn thời gian.

    Dẫu vậy, thơ không chỉ cần trái tim mà còn cần tài năng nghệ thuật. Cảm xúc là nguồn cội, còn nghệ thuật là phương tiện giúp cảm xúc hóa thành thi phẩm. Nhà thơ phải sống sâu với cuộc đời, không ngừng sáng tạo để biến tiếng lòng riêng thành tiếng nói chung của thời đại; người đọc cũng cần lắng nghe và đồng cảm để hoàn thiện hành trình của tác phẩm. Ngược lại, cảm xúc hời hợt hoặc kỹ thuật phô diễn đều khó tạo nên thơ ca đích thực.

    Có thể khẳng định, “Thơ ca là tiếng nói của trái tim người nghệ sĩ” là một nhận định đúng đắn. Qua Đồng chí, Chính Hữu đã biến những rung động chân thành thành những vần thơ giản dị mà bất tử. Chính sự gặp gỡ giữa cảm xúc chân thật và nghệ thuật tinh luyện đã làm nên sức sống lâu bền của thơ ca, để mỗi bài thơ trở thành nhịp cầu nối những tâm hồn đồng điệu.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Thơ là sự sống, nhưng đây là sự sống đọng lại, biến thành cái đẹp” bằng những trải nghiệm văn học của em

    Thơ ca luôn khởi nguồn từ cuộc sống nhưng không bao giờ chỉ là bản sao của cuộc sống. Bởi thế, ý kiến: "Thơ là sự sống, nhưng đây là sự sống đọng lại, biến thành cái đẹp" đã khẳng định bản chất của thơ: hiện thực chỉ trở thành nghệ thuật khi được chưng cất qua cảm xúc và tài năng của người nghệ sĩ.

    "Thơ là sự sống" nghĩa là thơ lấy chất liệu từ thiên nhiên, con người, lịch sử và những rung động của trái tim. Tuy nhiên, sự sống ấy phải được "đọng lại" qua suy ngẫm để rồi "biến thành cái đẹp" bằng ngôn từ, hình tượng và nhạc điệu. Vì vậy, thơ không sao chép hiện thực mà nâng hiện thực lên thành giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Điều đó được thể hiện rõ trong "Đồng chí" của Chính Hữu. Bài thơ bắt nguồn từ hiện thực kháng chiến với những người lính xuất thân từ làng quê nghèo: "Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá". Nhưng điều còn đọng lại không phải những gian khổ chiến trường mà là vẻ đẹp của tình đồng đội. Đặc biệt, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" đã kết tinh hiện thực và lãng mạn, chiến tranh và hòa bình trong một biểu tượng giàu sức gợi. Tương tự, "Bếp lửa" của Bằng Việt cũng khởi nguồn từ ký ức gia đình, còn "Sang thu" của Hữu Thỉnh lại gửi gắm suy ngẫm về sự trưởng thành từ khoảnh khắc giao mùa. Có thể thấy, nhờ tài năng nghệ thuật, sự sống đã được chuyển hóa thành vẻ đẹp của thơ.

    Hơn thế, "sự sống" trong thơ không chỉ là hiện thực đã diễn ra mà còn mở ra những khả thể của tương lai, nuôi dưỡng khát vọng và lý tưởng. Nhà thơ vì thế phải khám phá chiều sâu của đời sống chứ không tô hồng hiện thực; còn bạn đọc cần đồng sáng tạo để cảm nhận hết những tầng ý nghĩa của tác phẩm.

    Như vậy, ý kiến trên đã chỉ ra quy luật cốt lõi của thi ca: thơ bắt nguồn từ cuộc sống nhưng chỉ thực sự bất tử khi hiện thực được lắng đọng qua tâm hồn và tài năng của người nghệ sĩ, để từ đó đánh thức trong con người niềm tin vào vẻ đẹp bền vững của cuộc đời.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người” (Chu Văn Sơn) bằng những trải nghiệm văn học

    Thơ ca từ lâu đã trở thành tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người. Không chỉ lưu giữ cảm xúc của hiện tại, thơ còn có khả năng đưa con người trở về với những miền kí ức tưởng đã bị thời gian phủ mờ. Bởi vậy, nhận định của Chu Văn Sơn: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người” đã khẳng định những giá trị cốt lõi của thơ ca.

    Câu thơ hay không chỉ đẹp ở ngôn từ mà còn phải giàu giá trị tư tưởng và sức lay động. “Đánh thức” không đơn thuần là gợi nhớ mà là làm sống dậy những xúc cảm, những trải nghiệm từng in dấu trong tâm hồn. Khi đánh thức ký ức, thơ giúp con người đối diện với bản ngã, nhận ra những giá trị đã góp phần tạo nên chính mình, đồng thời thực hiện chức năng nhân văn bằng cách bồi đắp tình yêu quê hương, gia đình và lòng biết ơn. Điều đó được thể hiện rõ trong Ánh trăng của Nguyễn Duy, khi vầng trăng lặng lẽ đưa nhân vật trữ tình trở về với quá khứ nghĩa tình và thức tỉnh lương tri.

    Sở dĩ thơ làm được điều đó bởi thơ bắt nguồn từ những rung động chân thành. Ngôn ngữ hàm súc, hình tượng giàu sức gợi, nhạc điệu giàu cảm xúc đã mở ra những khoảng trống để người đọc đồng sáng tạo. Chỉ từ một bếp lửa trong thơ Bằng Việt hay một tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh, cả một miền tuổi thơ, tình bà và tình quê được khơi dậy.

    Tuy nhiên, thơ hay không chỉ đánh thức kí ức mà còn mở ra những suy ngẫm về cuộc sống và bồi đắp đời sống tinh thần. Vì thế, nhà thơ cần sống sâu sắc để lưu giữ những giá trị chân thực của con người và thời đại; còn người đọc cần mở rộng tâm hồn để đối thoại với thơ, từ đó hiểu hơn về bản thân và sống ý nghĩa hơn.

    Sức sống của một câu thơ không chỉ nằm ở sự trau chuốt của ngôn từ mà còn ở khả năng chạm đến những tầng sâu nhất của tâm hồn con người. Khi một câu thơ khiến ta nhớ về cội nguồn, đối diện với chính mình và biết trân trọng những giá trị đã từng lãng quên, ấy là lúc thơ đã hoàn thành sứ mệnh cao đẹp của mình: gìn giữ kí ức, nuôi dưỡng tâm hồn và đồng hành cùng con người trên hành trình hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Nhà thơ là người phát ngôn, người đặt tên, người đại diện cái đẹp... Dấu hiệu và bằng chứng của nhà thơ là ở chỗ anh ta nói được những lời người khác chưa từng nói”. bằng những trải nghiệm văn học

    Có những cảm xúc con người từng đi qua nhưng phải đến khi gặp một câu thơ, ta mới bất ngờ nhận ra: hóa ra đó chính là điều mình từng nghĩ, từng rung động mà chưa thể gọi thành tên. Bởi thế, một nhà thơ người Mĩ cho rằng: “Nhà thơ là người phát ngôn, người đặt tên, người đại diện cái đẹp... Dấu hiệu và bằng chứng của nhà thơ là ở chỗ anh ta nói được những lời người khác chưa từng nói”. Ý kiến đã chạm đến cốt lõi của sáng tạo thơ ca: nhà thơ không chỉ nói thay đời sống mà còn phải tìm được một cách nói riêng để làm mới những điều tưởng như quen thuộc.

    Trong “Sóng”, Xuân Quỳnh đã trở thành một “người phát ngôn” đầy chân thành cho những rung động muôn đời của tình yêu. Từ hình tượng sóng, nữ sĩ cất lên tiếng lòng của người phụ nữ đang yêu: “Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ”. Những đối cực ấy không chỉ miêu tả trạng thái của sóng mà còn gọi đúng những biến động phức tạp trong tâm hồn người yêu: vừa mãnh liệt, vừa dịu dàng; vừa khát khao, vừa nhiều âu lo. Nếu “Thuyền và biển” của Xuân Diệu cũng mượn thiên nhiên để nói tình yêu thì Xuân Quỳnh lại đem vào thơ một tiếng nói nữ tính, trực tiếp và giàu tự ý thức hơn.

    Đặc biệt, nhà thơ đã “đặt tên” cho một khát vọng tưởng như không thể diễn đạt: mong muốn tình yêu vượt khỏi giới hạn của thời gian. “Làm sao được tan ra / Thành trăm con sóng nhỏ / Giữa biển lớn tình yêu / Để ngàn năm còn vỗ”. Cái mới ở đây không nằm ở việc phát hiện tình yêu, mà ở cách Xuân Quỳnh biến khát vọng riêng tư thành một hình tượng thơ vừa cụ thể vừa giàu sức ám ảnh.

    Tuy nhiên, “chưa từng nói” không đồng nghĩa với cố tình lập dị. Cái mới đích thực phải bắt nguồn từ một trải nghiệm thật và một cách nhìn thật. Chính tiếng nói chân thành, nữ tính và giàu khát vọng ấy đã tạo nên phong cách Xuân Quỳnh. Nhờ nhà thơ, điều riêng tư trở thành tiếng nói chung; cái quen thuộc của tình yêu được nhìn bằng một đôi mắt khác. Vì thế, nhà thơ đích thực không chỉ làm cho thế giới có thêm những câu thơ, mà còn khiến con người nhìn thế giới sâu sắc hơn.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn nêu lên những vấn đề cuộc sống mà văn học đã gợi cho em thông qua việc bày tỏ quan điểm về ý kiến của Mi-lan Ken-de-ra: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở...

    Cuộc sống luôn chứa đựng những vấn đề không thể giải đáp bằng một câu trả lời duy nhất. Bởi thế, Milan Kundera cho rằng chiều sâu của tác phẩm nằm ở khả năng đặt ra những câu hỏi về đời sống và chính người đọc sẽ tìm lời giải theo cách riêng. Nhận định đề cao cả hai phía: nhà văn phải khám phá những vấn đề có ý nghĩa, còn người đọc cần chủ động đối thoại với tác phẩm.

    Đối tượng trung tâm của văn học là con người – một thế giới phức tạp, nhiều chiều. Vì vậy, văn chương lớn thường không áp đặt những chân lí có sẵn mà đặt chúng ta trước những số phận, lựa chọn để tự suy ngẫm. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đặt ra câu hỏi: cần nhìn nhận con người thế nào trước cuộc sống phức tạp? Ban đầu, Đẩu và Phùng muốn người đàn bà hàng chài rời bỏ người chồng vũ phu, nhưng câu chuyện của chị khiến họ nhận ra phía sau một hiện tượng tưởng dễ phán xét là bao nghịch lí của đói nghèo, gia đình và tình mẫu tử. Tác phẩm nhắc người đọc không thể nhìn cuộc đời đơn giản, một chiều.

    Với Lão Hạc, Nam Cao lại khiến ta tự hỏi: điều gì giúp con người giữ được phẩm giá trước nghịch cảnh? Nghèo đói đẩy lão Hạc vào đường cùng, nhưng lão vẫn không muốn tiêu vào mảnh vườn dành cho con, cũng không muốn sống bằng cách làm tổn hại người khác. Cái chết đau đớn của lão khiến người đọc nhận ra sức mạnh của lòng tự trọng và tình phụ tử trong một con người nghèo khổ. Còn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long gợi câu hỏi về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Anh thanh niên chấp nhận cuộc sống cô độc trên đỉnh Yên Sơn, âm thầm làm công tác khí tượng vì hiểu rằng công việc của mình gắn với công việc chung. Từ đó, người đọc có thể tự suy nghĩ: một cuộc đời có ý nghĩa phải chăng không chỉ là sống cho bản thân mà còn biết đóng góp cho người khác?

    Đặc biệt, những câu hỏi của văn chương không khép lại khi tác phẩm kết thúc. Bếp lửa của Bằng Việt có thể khiến mỗi người đọc ở những hoàn cảnh khác nhau tự hỏi mình đã thực sự trân trọng gia đình và nguồn cội hay chưa. Với người xa quê, bếp lửa có thể đánh thức nỗi nhớ; với người trẻ hôm nay, hình ảnh ấy còn nhắc nhở về lòng biết ơn đối với những người đã âm thầm nuôi dưỡng mình. Bởi vậy, cùng một tác phẩm nhưng mỗi thế hệ có thể tìm thấy những ý nghĩa mới từ trải nghiệm riêng.

    Tuy nhiên, nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa là hoàn toàn không bộc lộ quan điểm. Thông qua cách xây dựng nhân vật, tình huống và giọng điệu, người viết vẫn kín đáo thể hiện thái độ của mình. Chiều sâu của tác phẩm cũng không phụ thuộc vào số lượng câu hỏi mà ở việc những vấn đề ấy có được khám phá bằng trải nghiệm chân thực và hình tượng nghệ thuật thuyết phục hay không. Một tác phẩm cố tạo ra những câu hỏi cầu kì nhưng thiếu hơi thở cuộc sống vẫn có thể trở nên rỗng.

    Nhận định của Milan Kundera vì thế đặt ra yêu cầu với cả người viết và người đọc. Nhà văn cần sống sâu với cuộc đời để phát hiện những câu hỏi lớn phía sau những điều bình thường; người đọc cần có tư duy độc lập để đối thoại với tác phẩm thay vì chỉ tìm kiếm một “đáp án chuẩn”. Văn học không chỉ hỏi “con người là gì?” mà còn khiến mỗi chúng ta tự hỏi: “Tôi sẽ sống như thế nào?”. Chính những câu hỏi còn vang lên sau trang sách đã làm nên chiều sâu và sức sống lâu bền của văn chương.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” qua một bài thơ trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 7

    Thơ ca trước hết là tiếng nói của tâm hồn, nhưng một rung động dù sâu sắc đến đâu cũng chưa thể tự mình trở thành thơ nếu chưa được kết tinh trong ngôn từ. Bởi thế, có ý kiến cho rằng: “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ.” Nhận định đã gợi ra một quy luật quan trọng của sáng tạo thơ: thơ phải bắt đầu từ cảm xúc chân thành và được hoàn thiện bằng nghệ thuật ngôn từ.

    “Bắt rễ từ lòng người” nghĩa là thơ ca khởi nguồn từ những rung động, trải nghiệm, suy tư của con người trước cuộc sống. Không có một trái tim biết yêu thương, rung động, câu chữ khó có thể có sức sống. Trong Tiếng gà trưa, Xuân Quỳnh đã bắt đầu bài thơ từ một âm thanh hết sức bình dị: “Trên đường hành quân xa / Dừng chân bên xóm nhỏ / Tiếng gà ai nhảy ổ”. Tiếng gà bất chợt vọng lên giữa hành trình đã đánh thức trong người chiến sĩ cả một miền kí ức về tuổi thơ và người bà. Từ tiếng gà, tình bà cháu hiện lên qua những kỉ niệm thân thương, đặc biệt là hình ảnh người bà dành dụm, chắt chiu cho cháu: “Tay bà khum soi trứng / Dành từng quả chắt chiu”. Cảm xúc ấy không dừng ở tình thân mà được nâng lên thành tình yêu quê hương, đất nước: “Vì lòng yêu Tổ quốc / Vì xóm làng thân thuộc / Bà ơi, cũng vì bà / Vì tiếng gà cục tác / Ổ trứng hồng tuổi thơ.” Cũng từ những điều bình dị, Bếp lửa của Bằng Việt lại khơi dậy tình bà cháu qua hình ảnh “một bếp lửa chờn vờn sương sớm”. Hai bài thơ cùng cho thấy những tình cảm sâu nặng thường được đánh thức từ những hình ảnh rất đỗi quen thuộc của đời sống.

    Nhưng thơ không chỉ có “rễ” mà còn phải “nở hoa nơi từ ngữ”. Tiếng gà trưa hấp dẫn bởi ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, điệp từ “tiếng gà trưa” tạo nhịp cầu nối hiện tại với quá khứ, nối tình bà với tình nước. “Nở hoa” vì thế không có nghĩa là ngôn từ phải cầu kì, bóng bẩy; đôi khi chính những chữ bình thường, khi được đặt đúng chỗ và thấm đẫm cảm xúc, lại tạo nên sức ám ảnh lâu bền.

    Ý kiến trên vì vậy nhắc người nghệ sĩ phải vừa sống sâu với cuộc đời, vừa lao động nghiêm túc với ngôn từ. Người đọc cũng cần đi từ “hoa” của câu chữ trở về “rễ” của tâm hồn nhà thơ. Một bài thơ hay giống như một cái cây: rễ càng sâu trong lòng người, hoa càng có khả năng nở đẹp nơi từ ngữ.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca dân gian là tiếng nói trái tim của ngươi dân lao động. Nó thể hiện sâu sắc những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta.” qua những câu ca dao, tục ngữ mà em đã được học và đọc thêm

    Thơ ca dân gian không sinh ra từ những thư phòng xa cách đời sống mà lớn lên từ chính những nhịp lao động, những vui buồn và khát vọng của nhân dân. Bởi thế, nhận định “Thơ ca dân gian là tiếng nói trái tim của người dân lao động. Nó thể hiện sâu sắc những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta” đã chạm tới cội nguồn và giá trị tinh thần của bộ phận văn học đặc biệt này.

    “Thơ ca dân gian” là những sáng tác nghệ thuật bằng ngôn từ được nhân dân sáng tạo, lưu truyền và hoàn thiện chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Đó là những lời hát giao duyên, câu ca than thân, những lời ca về quê hương, gia đình, tình nghĩa… “Tiếng nói trái tim” chính là tiếng nói của cảm xúc, khát vọng và đời sống tinh thần. Vì vậy, ca dao trước hết là nơi người lao động cất lên những điều sâu kín nhất của mình.

    Điều ấy thể hiện rõ trong những câu ca dao than thân: “Thân em như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.” Hình ảnh “tấm lụa đào” đẹp đẽ nhưng “phất phơ” giữa chợ đã diễn tả nỗi xót xa của người phụ nữ trước thân phận bấp bênh, không thể tự quyết định cuộc đời. Từ một tiếng than riêng, ca dao đã trở thành tiếng lòng chung của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ.

    Nhưng thơ ca dân gian không chỉ lưu giữ nỗi đau. Trong đó còn ngân lên những tình cảm đẹp đẽ. Tình yêu đôi lứa được diễn tả bằng sự thủy chung: “Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.” Nếu “thuyền” gợi người đi, “bến” gợi người ở lại thì “một dạ khăng khăng” chính là lời khẳng định son sắt của tình nghĩa. Cùng với tình yêu, ca dao còn nâng niu tình quê qua những câu hát như “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.” Quê hương hiện lên không trừu tượng mà gần gũi qua cảnh sắc thân thuộc, từ đó kết tinh niềm tự hào của con người về nơi chôn nhau cắt rốn.

    Tuy nhiên, không nên hiểu “tình cảm tốt đẹp” là thơ ca dân gian chỉ có tiếng hát ngợi ca. Tiếng than thân, tiếng cười châm biếm hay lời phản kháng trước bất công cũng là những biểu hiện của một tâm hồn biết đau trước cái xấu và không cam chịu số phận. Chính vì thế, người đọc hôm nay cần lắng nghe ca dao trong cả vẻ đẹp lẫn những vết thương của nó để hiểu sâu hơn tâm hồn nhân dân.

    Thơ ca dân gian vì thế không chỉ là tiếng vọng của quá khứ. Mỗi câu ca còn là một nhịp đập của trái tim cộng đồng, nơi nhân dân gửi lại tình yêu, nỗi đau, khát vọng và niềm tin vào cuộc sống. Khi một câu ca dao vẫn khiến ta rung động hôm nay, ấy là lúc trái tim của người xưa tìm thấy một nhịp cộng hưởng trong trái tim con người hiện đại.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định: “ Phần lớn nhà văn, nhà thơ nào khi sáng tác đều thể hiện cá tính sáng tạo, ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống” ...

    Văn học chỉ thực sự sống lâu khi mỗi thế hệ biết vừa lắng nghe tiếng vọng của quá khứ, vừa cất lên một giọng nói riêng của mình. Bởi thế, ý kiến cho rằng “phần lớn nhà văn, nhà thơ… ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống” đã chạm đến một quy luật quan trọng của sáng tạo nghệ thuật. Văn học Việt Nam 1930–1945, với sự xuất hiện của những cá tính như Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao…, là minh chứng rõ nét cho quy luật ấy.

    “Cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống” là việc người nghệ sĩ tiếp nhận những giá trị đã được tích lũy từ trước về đề tài, thể loại, ngôn ngữ, cảm hứng hay tư tưởng, nhưng không sao chép mà chọn lọc và biến đổi. Trong khi đó, “cái không lặp lại” là những phát hiện, cách cảm, cách nghĩ và phương thức biểu đạt riêng, làm nên dấu ấn không thể trộn lẫn của mỗi nghệ sĩ. Chính vì không ai sáng tác từ khoảng không, truyền thống trở thành nền đất để nghệ thuật bén rễ; nhưng nếu chỉ đứng yên trên nền đất ấy, nghệ thuật sẽ không thể sinh trưởng. Bởi vậy, cá tính sáng tạo chính là năng lực biến cái đã có thành một thế giới nghệ thuật mới.

    Điều ấy có thể thấy rõ qua Chí Phèo của Nam Cao. Nam Cao kế thừa truyền thống hiện thực và cảm hứng nhân đạo của văn học trước đó khi viết về người nông dân nghèo bị áp bức. Nhưng ông không lặp lại hình ảnh người nông dân quen thuộc mà tạo nên một Chí Phèo vừa dữ dằn, vừa đau đớn, vừa khát khao được làm người. Tiếng kêu “Ai cho tao lương thiện?” không chỉ là lời tuyệt vọng của một cá nhân mà còn là câu hỏi nhức nhối về quyền sống, quyền được làm người. Nếu Ngô Tất Tố trong Tắt đèn tập trung khắc họa nỗi khổ và sức phản kháng của chị Dậu, thì Nam Cao đi sâu hơn vào bi kịch tinh thần: con người không chỉ bị đẩy vào đói nghèo mà còn bị cướp mất cả con đường trở về với nhân tính. Cùng viết về người nông dân, nhưng mỗi nhà văn đã tạo nên một cách nhìn riêng; đó chính là sức sống của cái mới.

    Tuy nhiên, cái mới không đồng nghĩa với sự phủ nhận sạch trơn quá khứ. Kế thừa máy móc sẽ khiến tác phẩm trở thành cái bóng của người đi trước; ngược lại, cách tân cực đoan dễ biến nghệ thuật thành sự lập dị, mất nền tảng văn hóa. Nhà văn chân chính phải biết tiếp nhận, đối thoại rồi vượt qua truyền thống bằng chính cá tính của mình. Người đọc cũng cần nhận ra trong tác phẩm cả dấu vết của cái quen thuộc lẫn bước tiến của cái mới. Sau cùng, một nền văn học lớn không phải là nơi người sau nói những điều hoàn toàn khác người trước, mà là nơi mỗi thế hệ làm cho những giá trị đã có thêm một đời sống mới. Nếu truyền thống là dòng sông nuôi dưỡng văn học, thì sáng tạo chính là cách mỗi nghệ sĩ tạo nên một dòng chảy riêng mà vẫn không đánh mất nguồn nước của mình.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn nêu ý kiến về nhận định: “Một tác phẩm văn học hay, theo tôi quan niệm, lõi phải dày, vỏ phải mỏng; mọi vấn đề đặt ra trong đó phải thẳng căng, những tình cảm phải được đẩy đến mức tột cùng.” (Nguyễn Khải) và phân tích một tác phẩm...

    Trong hành trình sáng tạo, nhà văn không chỉ cần kể một câu chuyện hấp dẫn mà còn phải khiến câu chuyện ấy mang theo một chiều sâu đủ sức ám ảnh. Bởi vậy, Nguyễn Khải từng quan niệm: “Một tác phẩm văn học hay, theo tôi quan niệm, lõi phải dày; vỏ phải mỏng; mọi vấn đề đặt ra trong đó phải thẳng căng, những tình cảm phải được đẩy đến mức tột cùng.” Tôi đồng tình với ý kiến ấy, bởi “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân chính là minh chứng tiêu biểu cho một tác phẩm có hình thức cô đọng nhưng hàm chứa chiều sâu tư tưởng lớn.

    “Lõi dày” trước hết là chiều sâu tư tưởng, giá trị nhân sinh mà tác phẩm gửi gắm; còn “vỏ mỏng” là hình thức nghệ thuật cô đọng, tinh luyện, không phô trương. “Thẳng căng” là những vấn đề được đặt ra rõ nét, có sức đối thoại; “tột cùng” là khi cảm xúc được đẩy đến điểm sâu sắc nhất của logic tâm lí. Trong “Chữ người tử tù”, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên quản ngục thực chất vượt khỏi một tình huống truyện thông thường. Qua mối quan hệ giữa người tử tù và người coi ngục, Nguyễn Tuân khẳng định sự bất tử của cái đẹp, tài năng và thiên lương. Đặc biệt, cảnh cho chữ đã đẩy tư tưởng và cảm xúc lên đỉnh điểm: giữa “buồng tối chật hẹp”, người nghệ sĩ tài hoa Huấn Cao vẫn tạo nên những nét chữ đẹp, còn viên quản ngục thành kính đón nhận. Cái đẹp vì thế không bị khuất phục bởi bóng tối mà còn có khả năng cảm hóa con người.

    Tác phẩm cũng cho thấy “vỏ mỏng” không phải là nghệ thuật sơ sài. Cốt truyện được xây dựng khá gọn, tập trung vào một tình huống giàu kịch tính; nhưng ngôn ngữ cổ kính, tương phản ánh sáng – bóng tối và thủ pháp đối lập đã khiến ý nghĩa tư tưởng hiện lên sắc nét. Nếu “Chữ người tử tù” lấy một cuộc gặp gỡ đặc biệt để tôn vinh cái đẹp thì “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam lại từ một phố huyện nghèo khắc họa khát vọng sống âm thầm của con người. Cả hai đều chứng minh rằng một câu chuyện tưởng nhỏ bé vẫn có thể chứa đựng một “cái lõi” lớn.

    Tuy nhiên, “lõi dày, vỏ mỏng” không nên trở thành công thức cứng nhắc. Điều quan trọng là hình thức phải vừa vặn với nội dung; cảm xúc phải mãnh liệt nhưng không cường điệu. Nhà văn cần làm cho điều lớn lao trở nên lay động, còn người đọc phải đi từ cái được kể đến cái được nghĩ. Sau cùng, một tác phẩm hay không phải vì nói thật nhiều, mà vì từ một câu chuyện hữu hạn có thể mở ra những suy tư vô hạn về con người và cuộc đời.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...