Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Công cụ học tập
Khám phá ngay
Tài liệu tham khảo
XEM NGAY
4000+ Ca dao tục ngữ, thành ngữ Việt Nam chọn lọc hay nhất
Ca dao, tục ngữ bắt đầu bằng D - Đ
Quảng cáo
Từ điển tiếng Việt
Ca dao, tục ngữ
Thành ngữ Việt Nam
Từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Chính tả tiếng Việt
Từ láy
Kho truyện
Luyện kĩ năng đọc hiểu
Dẫn chứng nghị luận xã hội
Văn mẫu nghị luận xã hội
Mở bài & Kết bài nghị luận xã hội
Dàn ý nghị luận xã hội
Văn mẫu nghị luận văn học
Mở bài & Kết bài nghị luận văn học
Dàn ý nghị luận văn học
Văn mẫu miêu tả
Mở bài & Kết bài văn miêu tả
Dàn ý văn miêu tả
Văn mẫu kể chuyện (tự sự)
Mở bài & Kết bài văn kể chuyện (tự sự)
Dàn ý văn kể chuyện (tự sự)
Cụm động từ (Phrasal verbs)
Động từ bất quy tắc
Tìm kiếm
Tra cứu theo chữ cái bắt đầu
a - ă - â
b
c
d - đ
e - ê
g
h
k
l
m
n
o - ô - ơ
p
q
r
s
t
u - ư
v
x
y
Ca dao, tục ngữ bắt đầu bằng D - Đ
Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ, Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha.
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Dạy con từ thuở còn thơ, Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.
Đói cho sạch, rách cho thơm
Đêm đêm con thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Dâu là con, rể là khách
Đố ai đếm được vì sao Đố ai đếm được công lao mẹ già.
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh, Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.
Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
Dao có mài mới sắc, người có học mới nên.
Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Đói lòng ăn hạt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn
Dứa đằng đít, mít đằng cuống.
Dù ai nói ngả nói nghiêng. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm
Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ
Đường đi những lách cùng lau Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên con.
Đàn ông đóng khố đuôi lươn, Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.
Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng
Đầu năm ăn quả thanh yên, Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.
Đông chết se, hè chết lụt
Đứt gánh giữa đường.
Dẫu rằng da trắng tóc mây, Đẹp thì đẹp vậy, dạ này không ưa.
Dốt đặc còn hơn chữ lỏng
Đổi trắng thay đen
Dạy con từ thuở tiểu sinh Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Dốt đến đâu học lâu cũng biết
Đời cha ăn mặn, đời con khát nước
Đôi ta vợ cấy, chồng cày, Chồng nay sương sớm, vợ nay sương chiều.
Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen
Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Được mùa chê cơm hẩm. Mất mùa lẫm cơm thiu
Được no bụng, còn lo ấm cật
Dốt kia thì phải cậy thầy Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên
Đầu năm trồng chuối, cuối năm trồng cam
Đẻ con chẳng dạy chẳng răn, Thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng
Đói thì đầu gối phải bò Cái chân hay chạy, cái giò hay đi.
Dâu dâu, rể rể cũng kể là con
Đa tình thì vướng nợ tình Trách ai đã vậy, trách mình sao đây!
Đô Lương dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Lưu tơ lụa để mà sánh đôi.
Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ
Đàn ông rộng miệng thì tài Đàn bà rộng miệng thì tai láng giềng.
Đói thì ăn ráy ăn khoai, đừng thấy lúa giỗ tháng Hai mà mừng
Được mùa cau, đau mùa lúa
Được người mua, thua người bán
Đạo vợ, nghĩa chồng.
Đi xe không mũ, lãnh đủ tang thương
Đói ăn vụng, túng làm liều
Đừng tham của rẻ của ôi, Những của đầy nồi là của chẳng ngon.
Dù cho đất đổi trời thay Trăm năm vẫn giữ lòng ngay với đời.
Đất màu trồng đậu trồng ngô Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn
Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau
Đèn cu li nửa nước nửa dầu, Nửa thương cha mẹ, nửa sầu nợ duyên.
Đi bộ thì khiếp Hải Vân Đi thuyền thì khiếp sóng thần, hang Dơi
Đi mô cũng nhớ quê mình, Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.
Đói bụng chồng, đau lòng vợ.
Đời cha đi hái hoa người, Đời con phải trả nợ đời cho cha.
Được mùa quéo, héo mùa chiêm
Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn
Đầu năm gió to, cuối năm gió bấc
Đi giày cao đế, ngồi ghế bành tượng
Đói miếng hơn tiếng đời
Đời vua Thái Tổ - Thái Tông Con bế, con dắt, con bồng, con mang
Đốn cây ai nỡ dứt chồi, Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương.
Đông Nam có chớp chéo nhau Thấp sát mặt biển hôm sau bão về
Đông the, hè đụp.
Được ta, xót xa người.
Dì ruột thương cháu như con, Rủi mà không mẹ, cháu còn cậy trông.
Dù ai chồng rẫy, vợ chê Bánh dày Quán Gánh thì về với nhau.
Dẫu ai xấu xí như ma Tắm nước Đồng Lâm cũng ra con người
Đã thành gia thất thì thôi, Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang.
Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.
Đắng như mật cá mè.
Đất không ải thì rải thêm phân
Đậu ra hoa, thì ta vun gốc
Điên điển mà đem muối chua, Ăn cặp cá nướng đến vua cũng thèm.
Đông chí trồng bí trồng bầu
Đông rắc tía tía màu hồng Gọi con thủ thỉ bảo chồng nhỏ to
Đông Thành là mẹ là cha, Đói cơm, rách áo thì ra Đông Thành.
Đức Thọ gạo trắng nước trong Ai về Đức Thọ thong dong con người
Đừng có chết mất thì thôi Sống thì có lúc no xôi chán chè.
Được tiếng còn hơn được miếng
Đi chơi bốn bề chỉnh chu, Trở về xó bếp chuột chù gặm chân.
Đến đây viếng cảnh viếng thầy Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần
Đồn rằng kẻ Trọng lắm cau, Kẻ Cát lắm mía, kẻ Mau lắm tiền.
Đường đi chín xã Sông Con, Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không?
BÌNH LUẬN
Mới nhất
Cũ nhất
Danh sách bình luận
Đang tải bình luận...
Tải thêm bình luận
Danh sách bình luận