Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Học ngay
Ca dao tục ngữ - Từ điển ca dao tục ngữ Việt Nam
Ca dao, tục ngữ bắt đầu bằng D - Đ
Quảng cáo
Luyện kĩ năng đọc hiểu
Từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Thành ngữ Việt Nam
Ca dao, tục ngữ
Động từ bất quy tắc
Cụm động từ (Phrasal verbs)
Chính tả tiếng Việt
Từ láy
Kho truyện
Dẫn chứng nghị luận xã hội
Tổng hợp văn nghị luận xã hội
Từ điển tiếng Việt
Tìm kiếm
Tra cứu theo chữ cái bắt đầu
a - ă - â
b
c
d - đ
e - ê
g
h
k
l
m
n
o - ô - ơ
p
q
r
s
t
u - ư
v
x
y
Ca dao, tục ngữ bắt đầu bằng D - Đ
Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng
Đói cho sạch, rách cho thơm
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ, Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha.
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Dạy con từ thuở còn thơ, Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.
Dù ai nói ngả nói nghiêng. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
Đố ai đếm được vì sao Đố ai đếm được công lao mẹ già.
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh, Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.
Được mùa cau, đau mùa lúa
Đêm đêm con thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng
Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn
Đông chết se, hè chết lụt
Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm
Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
Đói ăn vụng, túng làm liều
Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau
Đường đi những lách cùng lau Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên con.
Đàn ông đóng khố đuôi lươn, Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.
Đời cha ăn mặn, đời con khát nước
Đổi trắng thay đen
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Đầu năm trồng chuối, cuối năm trồng cam
Đói thì ăn ráy ăn khoai, đừng thấy lúa giỗ tháng Hai mà mừng
Dao có mài mới sắc, người có học mới nên.
Dốt đặc còn hơn chữ lỏng
Được người mua, thua người bán
Đi mô cũng nhớ quê mình, Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.
Dâu là con, rể là khách
Dốt đến đâu học lâu cũng biết
Đất không ải thì rải thêm phân
Đậu ra hoa, thì ta vun gốc
Đất màu trồng đậu trồng ngô Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn
Đầu năm ăn quả thanh yên, Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.
Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn
Đứt gánh giữa đường.
Đói lòng ăn hạt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ
Được ta, xót xa người.
Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen
Đầu năm gió to, cuối năm gió bấc
Đông the, hè đụp.
Được mùa chê cơm hẩm. Mất mùa lẫm cơm thiu
Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Đông chí trồng bí trồng bầu
Đói miếng hơn tiếng đời
Được tiếng còn hơn được miếng
Đạo vợ, nghĩa chồng.
Đèn cu li nửa nước nửa dầu, Nửa thương cha mẹ, nửa sầu nợ duyên.
Dạy con từ thuở tiểu sinh Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Dù cho đất đổi trời thay Trăm năm vẫn giữ lòng ngay với đời.
Đông rắc tía tía màu hồng Gọi con thủ thỉ bảo chồng nhỏ to
Đi giày cao đế, ngồi ghế bành tượng
Đói bụng chồng, đau lòng vợ.
Được mùa quéo, héo mùa chiêm
Đàn ông rộng miệng thì tài Đàn bà rộng miệng thì tai láng giềng.
Đi xe không mũ, lãnh đủ tang thương
Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Dốt kia thì phải cậy thầy Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên
Đói thì đầu gối phải bò Cái chân hay chạy, cái giò hay đi.
Đông Thành là mẹ là cha, Đói cơm, rách áo thì ra Đông Thành.
Dẫu rằng da trắng tóc mây, Đẹp thì đẹp vậy, dạ này không ưa.
Đừng tham của rẻ của ôi, Những của đầy nồi là của chẳng ngon.
Dì ruột thương cháu như con, Rủi mà không mẹ, cháu còn cậy trông.
Đông Nam có chớp chéo nhau Thấp sát mặt biển hôm sau bão về
Dâu dâu, rể rể cũng kể là con
Đắng như mật cá mè.
Đô Lương dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Lưu tơ lụa để mà sánh đôi.
Đồn rằng kẻ Trọng lắm cau, Kẻ Cát lắm mía, kẻ Mau lắm tiền.
Được no bụng, còn lo ấm cật
Dứa đằng đít, mít đằng cuống.
Đẻ con chẳng dạy chẳng răn, Thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng
Đời vua Thái Tổ - Thái Tông Con bế, con dắt, con bồng, con mang
Đã thành gia thất thì thôi, Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang.
Đến đây viếng cảnh viếng thầy Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần
Đi bộ thì khiếp Hải Vân Đi thuyền thì khiếp sóng thần, hang Dơi
Đốn cây ai nỡ dứt chồi, Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương.
Dù ai chồng rẫy, vợ chê Bánh dày Quán Gánh thì về với nhau.
Đa tình thì vướng nợ tình Trách ai đã vậy, trách mình sao đây!
Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.
Đôi ta vợ cấy, chồng cày, Chồng nay sương sớm, vợ nay sương chiều.
Đừng có chết mất thì thôi Sống thì có lúc no xôi chán chè.
Đời cha đi hái hoa người, Đời con phải trả nợ đời cho cha.
Điên điển mà đem muối chua, Ăn cặp cá nướng đến vua cũng thèm.
Đức Thọ gạo trắng nước trong Ai về Đức Thọ thong dong con người
Dẫu ai xấu xí như ma Tắm nước Đồng Lâm cũng ra con người
Đi chơi bốn bề chỉnh chu, Trở về xó bếp chuột chù gặm chân.
Đường đi chín xã Sông Con, Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không?