Soạn bài Vào chùa gặp lại SGK Ngữ văn 11 tập 2 Cánh diều - siêu ngắn

Đọc trước văn bản Vào chùa gặp lại, tìm hiểu thêm những hy sinh mất mát của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thông tin về tác giả Minh Chuyên.

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Trước khi đọc

Câu 1 (trang 62, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đọc trước văn bản Vào chùa gặp lại, tìm hiểu thêm những hy sinh mất mát của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thông tin về tác giả Minh Chuyên.

Phương pháp giải:

Chú ý lựa chọn thông tin phù hợp, phục vụ cho việc đọc hiểu. 

Lời giải chi tiết:

- Tác giả Minh Chuyên: 

+ Sinh năm 1948, quê ở Thái Bình. 

+ Là một tác giả đã có nhiều năm công tác và làm việc tại miền Đông Nam Bộ. Ông đã trải qua những giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh.

+ Suốt một đời văn chỉ viết một đề tài hậu chiến.

- Những hi sinh mất mát của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: 

+ Chiến tranh đã làm tổn hại nặng nề về người và của, nó kéo dài và khốc liệt đến nỗi hàng vạn nữ quân nhân cũng được huy động lại thành lập thành những tiểu đội, hành quân tiến vào chiến trường. 

+ Có những người sau cuộc chiến đã hi sinh, còn những người còn sống nhưng cũng bị thương tật, bệnh tật đầy mình hoặc tổn thương nặng nề về tinh thần. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 1

Câu 1 (trang 62, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chú ý các thông tin cụ thể về người thật, việc thật được nêu ở phần 1.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 1, tìm ra những chi tiết thể hiện thông tin cụ thể về người thật, việc thật.

Lời giải chi tiết:

+ Có địa chỉ cụ thể: Chùa Đông Am, xã Quang Bình, huyện Kiến Xương.

+ Có tên người: Thân. Là một đồng chí cũ giờ đang đi tu và nhận nuôi năm đứa trẻ bệnh tật.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 2

Câu 2 (trang 62, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Sư Đàm Thân kể lại chuyện gì về “một thời gian đã qua” ở chiến trường?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 1, chỉ ra câu chuyện mà sư Đàm Thân đã kể.

Lời giải chi tiết:

- Từ binh trạm 31 của đoàn 559, Thân chuyển về trung đoàn 8 sau đó được cử ra miền Bắc học tập nhưng Thân đã tình nguyện ở lại hết chiến dịch mới ra.

- Thân nhận được một tin dữ về người yêu đã mất, cô rất bàng hoàng vì với cô anh là sự sống, niềm tin cho cô cố gắng từng ngày. Sau đó cô tiếp tục theo chiến dịch, gặp nguy hiểm suýt chút nữa đã hi sinh vì đoàn xe bị trúng bom.

- Cô đã được hai chiến sĩ tình nguyện hiến máu cho nên cô mới có thể sống nhưng sau đó hai chiến sĩ đó cũng đã mất do trúng bom.

- Thân được ở trong một gia đình theo Phật giáo từ đó được cảm hóa dần dần và sau khi trở về cô đã bước chân vào đi tu, bỏ quên hồng trần muốn giúp đỡ mọi người. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 3

Câu 3 (trang 63, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Câu chuyện ở chiến trường hơn hai mươi năm trước của nữ quân y Lương Thị Thân có gì đặc biệt?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 1, qua câu chuyện ở chiến trường, tìm ra điểm đặc biệt. 

Lời giải chi tiết:

Sau khi trải qua rất nhiều những biến cố đau khổ, nữ quân y đã quyết định không xây dựng gia đình mà đi tu và giúp đỡ mọi người. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 4

Câu 4 (trang 64, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chú ý phân biệt lời nhân vật (sư Đàm Thân) và lời người kể chuyện xưng “tôi” trong phần 2. 

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 2, phân biệt bằng cách chú ý các lời đối thoại. 

Lời giải chi tiết:

- Lời nhân vật: Đàm Thân bảo: đó chỉ là ảo vọng và cho rằng ở chốn linh thiêng con người tu luyện không chỉ bằng tâm thể mà còn bằng hành thể... → Có lời dẫn tên nhân vật trước câu nói. 

- Còn các câu không có trích dẫn tên nhân vật là lời của người kể chuyện. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 5

Câu 5 (trang 65, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Những việc tốt đời đẹp đạo của sư Đàm Thân là gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 2, tập trung đoạn cuối để tìm ra những việc tốt đẹp giúp đời của Đàm Thân. 

Lời giải chi tiết:

+ Không ngại việc gì, giúp mọi người tu sửa cải tạo, mở mang ngôi chùa. 

+ Không để các tạp giáo len lỏi vào chùa. 

+ Không sử dụng danh tính cửa Phật mà làm những việc mê tín dị đoan, lừa người.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 6

Câu 6 (trang 66, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Tình huống bất ngờ ở đây là gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3, tìm ra tình huống bất ngờ xảy ra với Đàm Thân.

Lời giải chi tiết:

Sự xuất hiện của anh Quân, người mà Đàm Thân yêu nhất và tưởng anh đã hi sinh

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 7

Câu 7 (trang 66, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Nhân vật Hồng Quân đã kể lại chuyện gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3, nhân vật Quân đã kể lại câu chuyện gì với Đàm Thân.

Lời giải chi tiết:

Nhân vật Quân đã kể lại sự việc anh thoát chết như thế nào và cũng nhận được tin Thân mất. Anh chưa kịp về ngay do còn vết thương và nghĩ về cũng không còn gì. Đến khi anh nhận được tin từ mẹ của Thân anh mới biết Thân còn sống và tìm đến đây.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 8

Câu 8 (trang 67, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hình dung về tình cảm và thái độ của nhân vật Thân sau khi nghe Quân kể.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3, sau khi nghe Quân mở lời đón Thân về, Thân đã có suy nghĩ như thế nào, từ đó rút ra được tình cảm và thái độ. 

Lời giải chi tiết:

- Vừa mừng vừa thương. 

+ Mừng vì anh Quân đã vượt qua khó khăn để mạnh khỏe đứng ở đây. 

+ Thương vì không thể cùng anh Quân sống cùng nhau phần đời còn lại. 

→ Thân vẫn còn rất yêu thương Quân tuy nhiên giờ Thân còn việc khác phải làm không thể vì suy nghĩ hạnh phúc cá nhân mà bỏ tất cả. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 9

Câu 9 (trang 67, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Vì sao Thân từ chối lời cầu khẩn của Quân?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3, từ suy nghĩ và lời nói của Thân đáp lại Quân, rút ra lý do từ chối.

Lời giải chi tiết:

Thân do ảnh hưởng từ lần bị thương nặng, phần thân dưới đã bị tê nặng, không thể cùng Quân xây dựng một gia đình đầy đủ, hạnh phúc. Chỉ có trong cửa Phật, Thân mới có thể bớt đi cảm xúc u sầu.

Xem thêm cách soạn khác 

Trong khi đọc 10

Câu 10 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hành động nào của Quân khiến người đọc bất ngờ?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3 đoạn cuối, sau này Thân đi Bình Dương đã gặp Quân như thế nào? Tìm ra chi tiết hoàn cảnh của Quân.

Lời giải chi tiết:

Quân cũng quyết định đi tu do không muốn làm khổ vợ con.

Xem thêm cách soạn khác 

Trong khi đọc 11

Câu 11 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hình dung về sư Đàm Thân qua lời kể của tác giả?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 3 đoạn cuối, tìm ra chi tiết hình dung về sư Đàm Thân. 

Lời giải chi tiết:

+ Vẫn dáng đi hơi lệch, tập tễnh với màu áo nâu sẫm...

+ Nhìn thấy hoa của lòng người. 

→ Đó là minh chứng cho sự hi sinh vì đất nước, chính là đóa hoa đẹp nhất. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Văn bản trên có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, tìm ra những nhân vật (từ tên và cách xưng hô) và nhân vật nào được xuất hiện nhiều nhất.

Lời giải chi tiết:

- Nhân vật "tôi", sư Đàm Thân, chàng trai tên Quân, Vũ Thị Bích. 

- Nhân vật chính là sư Đàm Thân.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Nhân vật “tôi” gặp lại người nữ quân y trong tình huống nào? Ý nghĩa của tình huống ấy là gì?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, tìm ra tình huống gặp nữ quân y và dụng ý của tác giả khi đưa ra tình huống đó.

Lời giải chi tiết:

- Nhân vật “tôi” gặp lại người nữ quân y sau hơn hai mươi năm, cuộc gặp gỡ bất ngờ này diễn ra ở chùa Đông Am.

→ Thể hiện sự biết ơn của nhân vật tôi khi vẫn nhớ đến nữ y sĩ được coi là "bồ tát" nhân từ

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Phân tích hình tượng nhân vật Đàm Thân. Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm như thế nào đối với nhân vật này? Dẫn ra một số câu văn chứng tỏ điều đó.

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, tìm ra những chi tiết, câu văn thể hiện thái độ tình cảm đối với nhân vật chính của tác giả. 

Lời giải chi tiết:

- Nhân vật Đàm Thân: 

+ Cô là một người chiến sĩ dũng cảm không tiếc mình hi sinh cho nhân dân, đất nước.

+ Cô yêu hết mình và rất chung thủy với người yêu.

+ Khi không còn tình yêu bên cạnh cô quyết tâm không sống vì bản thân mình nữa mà sống vì đời, giúp đời. 

- Thái độ tôn trọng và yêu mến. Điều này được thể hiện qua một số chi tiết như:

+ Nhân vật tôi luôn coi Đàm Thân như vị "bồ tát" nhân từ.

+ Chi tiết "Nhìn bóng Đàm Thân khuất sau... tôi chợt nhớ lời nhà sư nói về sự linh ứng của kinh Pháp hoa, và cứ mường tượng như thể mình đã nhìn thấy hoa của lòng người."

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chỉ ra một số chi tiết cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản Vào chùa gặp lại. Theo em, sự kết hợp này có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung, ý nghĩa của văn bản?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, tìm ra những chi tiết có thật và không có thật và tác dụng việc sử dụng yếu tố đó với nội dung và ý nghĩa.  

Lời giải chi tiết:

- Một số chi tiết cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu trong văn bản Vào chùa gặp lại:

+ Một trong những lí do, khiến Đàm Thân quyết định xuất gia là do những giấc mơ ngày ở chiến trường luôn luôn linh ứng.

- Một số chi tiết cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố phi hư cấu:

+ Ngày 12 tháng 2 năm 1975, máy bay địch bắn phá lên đỉnh dốc Chu Linh.

+ Thân về quê với 62% thương tật, hưởng chế độ thương binh 2/4.

→ Nhấn mạnh trong việc thể hiện nội dung, ý nghĩa của truyện. Qua những chi tiết đó, ta có thể thấy được hiện thực khốc liệt của chiến tranh, tội ác của lũ bán nước và cướp nước.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Từ câu chuyện của các nhân vật trong văn bản, em suy nghĩ gì về những hi sinh cao cả của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, qua những hành động thái độ hoàn cảnh và cách đối diện của họ với cuộc chiến và những hậu quả để đưa ra suy nghĩ cá nhân.

Lời giải chi tiết:

Chiến tranh đã gây ra hậu quả nặng nề cho toàn bộ người dân không chỉ có đàn ông mà cả phụ nữ cũng phải chịu những đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần. Họ mất đi sức khỏe, có thể mất đi tính mạng nhưng vì một lòng yêu nước, họ đã không tiếc thân mình. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 6

Câu 6 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Theo em, câu chuyện muốn truyền đạt tới người đọc thông điệp nhân sinh gì? Điều đó còn có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hôm nay?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, từ nội dung văn bản suy ra được thông điệp nhân sinh. 

Lời giải chi tiết:

- Thông điệp nhân sinh về con người trong thời chiến. Văn bản nói về sự hy sinh cao cả của những người quân nhân là phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. 

-Truyện không chỉ ca ngợi những tấm gương sáng chói đó mà còn muốn phê phán, tố cáo hành động dã man và những hậu quả khủng khiếp mà chiến tranh mang lại cho con người.

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Vào chùa gặp lại
+

Vào chùa gặp lại

Minh Chuyên

[….] Qua gần chục ngôi chùa, tôi dừng lại một ngày để đến chùa Đông Am, xã Quang Bình, huyện Kiến Xương. Ngôi chùa có sư Đàm Thân. Tôi thật không ngờ,

Thân vừa tu hành, vừa nhận nuôi dưỡng năm đứa trẻ tàn tật, con của những người đồng đội bị nhiễm chất độc da cam, bố mẹ đều đã chết. Người y sĩ tôi gặp ở binh trạm 31 hơn hai mươi năm trước, giờ đây gặp lại đã trở thành vị “bồ tát” nhân từ đang ngồi trước mặt chúng tôi.

Đàm Thân vừa đi giám định nâng loại thương tật về. Cùng đến thăm chùa, tôi

mời cả chị Vũ Thị Bích, người đã có một thời sống với nhà sư ở chiến trường. [...]

Đàm Thân ngồi trầm lặng, ngước nhìn lên, vẻ mặt xa xăm, mắt chớp chớp hồi nhớ một thời đã qua. Thân kể: Từ binh trạm 31 của đoàn 559, Thân chuyển về làm bệnh xá phó của trung đoàn 8. Ít lâu sau được cử ra miền Bắc học tập, nhưng Thân đã tình nguyện ở lại phục vụ hết chiến dịch mới ra. Giữa những ngày ấy, Thân nhận được tin do một người bạn từ Tây Ninh ra cho biết: Nguyễn Hồng Quân, người yêu của Thân đã hi sinh. Chết chóc chiến trường là chuyện thường tình, nhưng tin Quân tử trận vẫn làm Thân bàng hoàng đau đớn. Bởi với Thân, anh là một nửa sự sống của cô. Những ngày hăm hở lao vào phục vụ chiến đấu nơi mặt trận cũng một phần vì anh. Thân hi vọng khi đất nước thống nhất, Thân và anh sẽ trở về mãi mãi sống hạnh phúc bên nhau.

Vậy mà Quân không còn. Anh hi sinh, Thân đau xót cảm như một nửa dời mình

“đã chết”. Nhưng rồi chiến trường chẳng cho ai buồn lâu, nhớ lâu. Nhiệm vụ dồn

dập đến, Thân theo đoàn xe chở bộ đội về Lao Bảo – Quảng Trị. Ngày 12 tháng 2

năm 1975, cái ngày tiến quân ào ào như cơn lốc ấy, Thân bảo: suýt nữa đời cô đã đi vào cõi vĩnh hằng. Hôm đó, đoàn xe vừa lên tới đỉnh dốc Chu Linh thì máy bay địch ập đến bắn phá. Khói bom và đất đỏ tung bay mịt trời. Đoàn xe trúng bom khựng lại, nhiều chiếc bốc cháy, xô đổ, lao xuống vực sâu. Thân bị ba vết thương ở đầu, ở gối và ở cột sống, bất tỉnh. Cô được đưa tới một đội điều trị dã chiến sơ tán trong dân.

Khi tỉnh lại, biết mình sống được là nhờ hai chiến sĩ cùng đơn vị khiêng đi cấp cứu

và hiến máu tình nguyện để cứu cô. Khi quay về, hai chiến sĩ ấy đã hi sinh vì trúng

pháo bầy của địch, nên Thân cứ nằm thương khóc hoài. Cơ sở Thân nằm điều trị là

một gia đình Phật tử, thờ Phật tại gia. Thân bảo ngày ngày đều đặn cô được nghe gia chủ thỉnh kinh gõ mõ. Lời kinh Phật nhân từ, sâu lắng làm tâm hồn cứ lâng lâng du mộng, sau này, Thân mới hiểu đó là Báo ân chân kinh và kinh Pháp hoạ,

Thân bảo: “Thế là từ đó đạo Phật cứ ngấm dần, ngấm dần rồi chuyển hoá tôi. Tôi

bắt đầu học chữ Nho, học ngay khi đang nằm điều trị.”. [...]

Khi lành vết thương, cũng là lúc tiếng súng trên chiến trường miền Nam im hẳn.

Cuộc chiến kết thúc, với 62% thương tật, Lương Thị Thân trở về Nam Cường – Tiền Hải hưởng chế độ thương binh 2/4. Về quê, xanh xao những cơn sốt rét rừng Trường Sơn đã “biến mất”, sức khoẻ dần dần hồi phục. Nét đẹp duyên dáng của người con gái làng biển lại thức dậy trên đôi má trắng tròn và mái tóc dài óng mượt của Thân.

Trai làng có người để ý. Nhưng từ lâu Thân đã ấp ủ nguyện ước phó thác cuộc đời

nơi Tam bảo. Phần thì để giữ trọn mối tình đầu thuỷ chung với Hồng Quân, người

là nửa sự sống của đời cô. Phần vì giấc mơ ngày ở chiến trường luôn luôn linh ứng ám ảnh. Thân muốn được cầu nguyện cho ân nhân của mình, cho những người đồng đội, cho cả anh Quân nữa để vong linh họ siêu thoát, thi thể họ nguyên lành. Thân bảo đi chùa:

“Đâu vì thân độ đấng thân

Mà mong đồng đội trầm luân vẹn toàn".

Những ngày đầu, bố mẹ Thân ngăn cấm không cho xuất gia. Cô phải trốn đi. Thương con, bố Thân lặn lội

lên rừng, xuống biển hơn tháng trời mới tìm thấy cô ở động Hương Tích. Ông bắt Thân về “xuất giá tòng phu”.

Về nhà, Thân vẫn quyết chí hướng tới cửa Phật, kiên trì thuyết phục xin cha mẹ cho được đi tu.

Thấy chí con không đổi, cuối cùng thầy mẹ cô dành chấp nhận. [...]

Những ai mơ tưởng vào nơi cửa Phật là trút bỏ mọi nhọc nhằn của kiếp người

trầm luân, là những mong “đắc đạo hoá toan phận mình” thì không phải. Với

Lương Thị Thân, những ngày bước vào cửa thiền là những ngày đầy khổ ải, vất vả,

gian nan.

Ngôi chùa đầu tiên mở cửa đón Thân là chùa Đông Chú, Kiến Xương. Nhiệm

vụ của Thân là vừa làm công việc của một chú tiểu, vừa lo săn sóc, nuôi dưỡng sư

bác Trần Diệu Tánh bị tàn tật do di chứng nhiễm chất độc da cam, chân tay co

quắp, liệt toàn thân. [...] Từ đó, ngày ngày Thân làm việc cần mẫn từ sáng sớm tinh

mơ đến tận sao khuya. Vừa quét dọn chùa, chuẩn bị nhang đèn, sắm sửa đồ lễ, vừa

trồng cấy, chăn nuôi tự túc lương ăn, vừa giặt giũ, tắm rửa, thuốc men chăm sóc sư

bác Trần Diệu Tánh. Dù bận mải tối ngày, Thân vẫn tranh thủ học chữ Nho, đọc

kinh, tu luyện nhân tâm. Đều đặn, gần năm năm khổ công thử thách và hành đạo,

chú tiểu Lương Thị Thân được lên sư bác và mấy năm sau nữa được phong là sư

thầy. Sư thầy Đàm Thân được Giáo hội Phật giáo điều về trụ trì chùa Đông Am, xã

Quang Bình này.

Vào chốn linh thiêng, tâm hồn được thanh thản, thể xác được an nhàn. Có người nghĩ thế. Đàm Thân bảo: đó chỉ là ảo vọng và cho rằng ở chốn linh thiêng con người tu luyện không chỉ bằng tâm thể mà còn phải bằng hành thể. Nghĩa là ngoài đọc kinh, hành đạo còn phải “xắn tay” xốc vác những công việc của người đời.

Đàm Thân bảo:

– Ba giờ sáng dậy làm vệ sinh. Bốn giờ lên thỉnh một hồi chuông, sau đó vào tụng

kinh đến sáu giờ. Ban ngày tăng gia sản xuất. Chín giờ tối đến một giờ đêm lại tĩnh

tâm niệm Phật. Sáng chiêu, tối mộ), là bổn phận của nhà chùa.

Nghe thời gian làm việc sít sịt ngày và đêm. Quả là ở chốn linh thiêng, con người

tu luyện cũng phải có nghị lực rất lớn.

Lên bậc sư thầy, Thân vẫn chẳng nề hà việc chi.

Đi đâu, tới chùa nào Thân cũng được mọi người mến mộ, kính nể. Ở chùa Đông Am, vừa lễ Phật, cầu kinh, sư thầy Đàm Thân vừa xốc vác cùng mọi người tu sửa,

cải tạo, mở mang, biến ngôi chùa này, một di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, vốn hoang tàn, thành ngôi chùa cảnh sạch cỏ, đỏ nhang. Từ ngày Đàm Thân về trụ trì, chùa Đông Am liên tục đoạt danh hiệu chùa “bốn gương mẫu”. Khi trao đổi với Uỷ ban Mặt trận huyện Kiến Xương tôi mới hay: Sở dĩ Đông Am là chùa gương mẫu vì sư thầy Đàm Thân không để các tạp giáo, bá đạo len lỏi vào chùa. Không lợi thế cửa Phật để làm những điều nhảm nhí, mê tín, đồng bóng, xóc thẻ, yểm bùa, đốt mã, gọi hồn,... [...]

Trò chuyện với Lương Thị Thân, Vũ Thị Bích, tôi cảm thấy như khoảng cách

giữa nhà sư và khách dần được thay bằng tình cảm của đôi bạn: tình cảm của hai

cô gái từng chung sống trong một cái lán dưới rừng Trường Sơn hơn hai mươi năm

trước. Và họ đằm thắm thổ lộ tâm tình cùng nhau. Bích hỏi:

– Thân vẫn đẹp như ngày xưa. Ở chùa, có người nào đến quấy quở không?

Nhìn Thân thoáng buồn, người thừ ra, im lặng. Bích tiếp:

– Ở chùa cảnh tĩnh lại trăng thanh gió mát, Thân đẹp thế, sao mà tránh khỏi

phải không?

– Mô Phật. Không. – Thân lắc đầu. – Chỉ có một đêm... – Thân nói rồi im lặng.

Bích hiểu ở nơi xa rời phàm tục, chắc là có một đêm không bình thường. Thân

nhìn Bích rồi khẽ khàng kể lại cái đêm ấy.

Thân đang ngồi xếp bằng, một tay gõ mõ, một tay gõ chuông, lòng tĩnh tâm, miệng

dọc kinh niệm Phật. Đêm khuya thanh vắng, tiếng chuông càng ngân vang. Bỗng

lòng dạ bồn chồn như có người mong đợi. Cố đọc hết hai quyển kinh Di đà và kinh

Phổ môn, gấp lại, tay xách cây đèn bão, Thân lững thững bước ra. Thoáng ánh đèn,

bất chợt thấy khuôn mặt một người đàn ông đứng bên gốc cây đại, sát mái hiên chùa.

Thân bàng hoàng nhận ra khuôn mặt ấy rất giống Hồng Quân – người yêu của cô.

Đứng lặng người trong trạng thái như vừa mê, vừa tỉnh. Thân chợt nghĩ, trong những năm tháng cầu nguyện cho Quân, bây giờ vong linh anh ấy đã hiện hình.

– Mô Phật. – Thân từ từ nâng một bàn tay lên chắp trước mặt, miệng lẩm bẩm mô

Phật – Cầu mong cho anh mau chóng siêu thoát, sống khôn chết thiêng, phù hộ cho

mẹ cha và Thân mạnh khoẻ.

Người đàn ông nghe Thân lẩm bẩm, từ gốc cây đại

khẽ khàng bước ra, miệng nói:

— Không! Anh là Quân đây. Anh còn sống. Anh mới

về, Thân không nhận ra sao?

Thân mơ hồ rồi bừng tỉnh. Một tay giơ cây đèn, một tay chia lên phía trước run run, mắt chăm chăm nhìn, miệng nói líu lại:

— Anh là ... Quân thật ư?

– Thật. Anh là Quân đây mà.

— Trời ơi! Anh còn sống. Vậy mà...

Các chú tiểu, người đốt nến, thắp hương, người lấy nước tiếp khách và họ được

chứng kiến cảnh tượng gặp lại người thân của sư thầy thật éo le. Khi còn hai người

ngồi đối diện nhau qua cái bàn gỗ lim của nhà chùa, Hồng Quân đã kể lại vì sao “thần chết” lại tha anh.

Hôm ấy, đơn vị Quân tập kích một đại đội lính nguy bên sườn núi Bà Đen. Bị lộ, địch gọi máy bay tới bắn phá, huỷ diệt lực lượng của ta. Nhiều chiến sĩ trúng bom

thân hình tan nát. Quân bị trọng thương và sức gió của trái bom nổ gần hất tung vào một khe đá, bất tỉnh. Sau đêm đó, đơn vị đã tổ chức lễ truy điệu cho cả trung đội, trong đó có Hồng Quân. Nằm chờ chết trong khe đá đến ngày thứ tư, mùi vết thương bay ra làm những người đi rừng dừng lại tìm kiếm. Lần theo, họ vạch lùm cây bên tảng đá, thấy Quân đang thoi thóp. Họ khiêng Quân về bản Tà Keo, chạy chữa thuốc men rồi giao lại cho một đội điều trị gần đấy. Quân sống sót là nhờ dân bản. Khi tỉnh táo, Quân nhận được tin Thân đã hi sinh ở chiến trường Lao Bảo. Anh nói:

- Vì thế khi giải phóng miền Nam, phần thì phải ở lại chờ phẫu thuật vết thương

tái phát, phần thì nghĩ về quê Thân có còn đâu.

Hồng Quân tiếp:

– Đến khi sang bên này thăm thầy mẹ, mới hay là Thân còn sống và đang ở chùa.

Quân cảm động nói tiếp:

– Người ta bảo Thân đi chùa là vì tôi. Xin cảm ơn Thân nhiều. Nay biết Thân tu

ở chùa này, tôi đến đón Thân về đây.

Đường đột gặp lại người thương và nghe Quân kể chuyện từ cõi chết trở về, Thân vừa mừng vừa thương. Mừng vì anh còn sống, thương vì cô không thể chăm lo phần đời còn lại của Quân được nữa.

Thân nói, lòng nghẹn ngào:

– Anh Quân ơi! Nếu em chưa phát nguyện tu hành thì nhất định em sẽ về với anh.

Nhưng bây giờ em đã theo đạo Phật rồi, anh thông cảm cho em nhé anh.

Nhìn Thân vẫn khuôn mặt vầng trăng, và đôi mắt đẹp thơ mộng như ngày xưa,

vẫn nước da trắng mịn và lời nói dịu dàng, Quân bảo:

— Tu nơi cửa Phật, nhiều người vẫn phá giới về với cõi đời. Thân về với tôi đi.

Tôi sẽ xin cho Thân hoàn tục.

– Mô Phật! Không. Em đã hoàng dương rồi. Nhà Phật không cho người hoàng

dương về đâu.

Thân chối từ mãi, Quân vẫn van vi, tha thiết khuyên cô xa rời cõi hư vô về với tổ

ấm gia đình. Thân đành phải nói rõ thân phận của mình, nói cái điều mà cô chưa hề

thổ lộ cùng ai. Đó là do hậu quả di chứng chất độc da cam và vết thương cột sống. Nó thường xuyên làm nửa người phía dưới của Thân tê dại. Bác sĩ đã kết luận Thân không còn khả năng... Thân không thể đem lại tương lai và hạnh phúc cho Quân được. Chỉ có ở nơi hư vô cửa Phật, lòng Thân mới bớt nỗi sầu đau.

Nghe Thân giãi bày, Quân đau đớn ngồi im, thương quá mà lực bất tòng tâm.

Những ngày yêu nhau trong đạn bom, hai người thầm mong ước, bao giờ hết giặc, họ sẽ về mãi mãi sống bên nhau. Vậy mà hết chiến tranh rồi, tiếng bom vẫn âm thầm nổ trong “lòng họ”. Chiến tranh đã cướp mất tình yêu.

Thân lau nước mắt, khẽ nói chỉ đủ hai người nghe rõ:

– Ở nơi cửa thiền, em sẽ cầu nguyện cho anh có cuộc sống mới luôn luôn tốt lành

và hạnh phúc!

Rồi đêm đó hai người chia tay nhau.

Thân quay sang Bích và bảo:

– Cái đêm hôm ấy là thế đấy.

Bích nắm bàn tay bạn, thở dài:

– Vậy mà mình cứ ngỡ… thì ra anh Quân vẫn còn sống và vẫn nhớ tới Thân.

Bích tiếp:

– Bây giờ anh Quân ở đâu? Lâu nay, Thân có gặp lại anh ấy không?

Có! — Thân nói — Vừa qua, tôi đi lễ Phật Đản bên chùa Bình Dương. Vừa tới cửa tam quan), bỗng giật mình khi gặp một người đàn ông đầu trọc, chít vành khăn nâu, vận quần áo nhà chùa. Thấy tôi, người ấy lúng túng vẻ muốn tránh mặt.

Tôi nhận ra và thốt lên: “Anh Quân. Anh đi chùa sao không cho Thân biết?”. Lúc đó, anh ấy chẳng nói gì.

Nghe Thân kể, Vũ Thị Bích từng được chứng kiến bao cảnh đời éo le, vẫn không

ngờ Quân lại tìm vào nơi cửa Phật, Bích hỏi:

— Thân có biết vì sao anh Quân lại đi tu?

Thân ngượng ngùng, nói:

– Anh Quân bảo, anh bị nhiễm chất độc đi-ô-xin(2 ngày còn ở núi Bà Đen. Khi

về quê nhìn thấy cảnh “tật nguyền quái dị” của những người đồng đội cùng bị nhiễm độc như anh, anh Quân sợ làm khổ đời Thân sau này, nên có ý định muốn xa Thân. Nhưng khi gặp nhau, anh ấy bảo, tình yêu đã át hết, nên mới nài nỉ khuyên Thân “phá giới” rời chùa.

Thân nói tiếp:

– Khi Thân từ chối, ra về, anh ấy quyết không xây dựng tổ ấm gia đình nữa, vì biết

mình cũng sẽ gây đau khổ cho vợ con như bạn mình. Anh ấy bảo, nghe chuyện Thân vào chùa vẫn làm được nhiều việc hữu ích, vì thế anh ấy đã quyết định đi chùa. [...]

Bích nói như để an ủi bạn mình:

– Gặp được một người như anh Quân, dù phải cách xa nhau, cũng là mãn nguyện,

Thân ạ.

Thân khẽ gật đầu. Bỗng cửa chùa có khách vào dâng lễ. Mô Phật, sư thầy Đàm Thân đứng dậy, vẫn cái dáng đi hơi lệch, tập tễnh trong bộ quần áo nâu sẫm,

tay cầm quyển kinh Pháp hoa, thư thả bước lên chùa. Nhìn bóng Đàm Thân khuất

sau cánh cửa Tam bảo, tôi chợt nhớ lời nhà sư nói về sự linh ứng của kinh Pháp hoa, và cứ mường tượng như thể mình đã nhìn thấy hoa của lòng người.

(In trong Người lang thang không cô đơn, Truyện kí, tái bản lần thứ 3, NXB Văn học, Hà Nội, 2018)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close