Soạn bài Đi lấy mật SGK Ngữ văn 7 tập 1 Kết nối tri thức - chi tiếtHãy kể tên một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn…). Nơi nào đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất? Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Nội dung chính
Trước khi đọc Video hướng dẫn giải Câu hỏi (trang 18 SGK Ngữ văn 7, tập 1) Hãy kể tên một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn…). Nơi nào đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất? Phương pháp giải: Hãy nhớ lại và kể tên theo các gợi ý sau: - Những miền quê, địa danh đó tên gì? - Em từng đến thăm lúc nào? Hoặc biết qua tác phẩm nghệ thuật nào? - Giới thiệu vài nét về địa danh đó. Lời giải chi tiết: Cách 1 Nơi để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em chính là làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, Huyện Gia Lâm, Hà Nội, cách trung tâm thành phố hơn 10km về phía Đông Nam. Đây là làng nghề truyền thống nổi tiếng về các sản phẩm bằng gốm sứ. Nơi đây thường xuyên là điểm dừng chân của nhiều khách du lịch đến tham quan thủ đô. Chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng thú vị khi bắt gặp những bình hoa, chậu gốm trưng bày khắp các ngõ ngách trong làng hay những bức tường phơi than thật đặc sắc. Làng gốm Bát Tràng với nhiều điều hấp dẫn về văn hóa, lịch sử, người dân Bát Tràng thân thiện, mến khách đã để lại trong lòng em những ấn tượng khó quên.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn, ...): Lạng Sơn, Nghệ An…. - Nơi ấn tượng nhất với em là Nghệ An bởi con người rất gần gũi, giọng nói hay và là nơi có nhiều cảnh đẹp “Đường vô xứ nghệ quanh quanh. Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. - Một số miền quê của Việt Nam đã từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn…): hang Én, đảo Cô Tô, tỉnh Bến Tre… - Nơi để lại ấn tượng sâu sắc nhất: tỉnh Bến Tre, bởi khung cảnh thiên nhiên miền Tây sông nước rộng lớn, những hàng dừa xanh và cả nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng. Mỗi một nơi đều có nét đặc sắc riêng biệt, nhưng để lại nhiều ấn tượng nhất trong em đó là hòn đảo Cô Tô. Bởi nơi đây cảnh đẹp thiên nhiên rất trong trẻo, những dòng nước biển trong xanh, từng tia nắng chiếu xuống càng làm bức tranh thiên nhiên thêm tráng lệ. Ngoài ra thì con người nơi đây cũng rất thân thiện, họ ngày đêm lao động và cống hiến hết mình cho Tổ quốc. - Một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn, ...): Lạng Sơn, Nghệ An…. - Nơi ấn tượng nhất với em là Nghệ An bởi con người rất gần gũi, giọng nói hay và là nơi có nhiều cảnh đẹp “Đường vô xứ nghệ quanh quanh. Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Đọc văn bản 1 Video hướng dẫn giải Câu 1 (trang 20, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Cò giảng giải cho An những gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ “Cao quá đầu tôi một với tay…Nó tới liền bây giờ” Lời giải chi tiết: Cách 1 Cò giảng giải cho An cách để nhìn thấy ong mật: “cứ nhìn kĩ vào khoảng cách giữa hai nhánh tràm cao kia”, “nhìn một chỗ trống ấy”, “nó tới liền bây giờ”.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Cò giảng giải cho An về sự xuất hiện của ong mật, nơi mà ong mật sẽ làm tổ. Cò giảng giải cho An về sự xuất hiện của ong mật, nơi mà ong mật sẽ làm tổ. Cò đã giảng giải cho An cách để nhìn thấy ong mật. Cò giảng giải cho An để An nhìn thấy được con ong mật: “nhìn kĩ vào khoảng cánh giữa hai nhánh tràm cao. Nhìn đúng vào một chỗ thôi. Cò giảng giải cho An rằng con ong mật ở đâu.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Đọc văn bản 2 Video hướng dẫn giải Câu 2 (trang 22, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Tóm tắt nội dung câu chuyện của má nuôi An. Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ “Tôi ngước nhìn tổ ong như cái thúng… người đốn củi lội đến” Lời giải chi tiết: Cách 1 Má nuôi An có dặn dò và chỉ An cách nhận biết được bầy ong, lấy mật bằng cách quan sát nhành cây, hướng gió, tính trước đường bay của ong mật,….
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Nội dung câu chuyện của má nuôi An: + kể về chỗ tìm cách gác kèo với những kinh nghiệm như hướng gió, đường bay của ong, chỗ ấm, ít gió, ít người qua lại + kể về cách làm tổ ong: chọn nhánh tràm non, to bằng cổ tay, chọn cây vừa kín vừa im và có nhiều bóng nắng thì mật không bị chua; gác kèo làm tổ phải tỉa bớt xung quanh để khi lấy mật cho dễ. + kể về thời gian đóng tổ: giữa tháng mười một, như vậy cuối năm gặp mưa cành làm tổ sẽ bị mưa rửa trôi sẽ giống với các cành còn lại thì ong sẽ về làm tổ. Má nuôi của An đã dạy cho An cách nhận biết được bầy ong, lấy mật bằng cách quan sát nhành cây, hướng gió, tính trước đường bay của ong mật… Nội dung câu chuyện của An và má nuôi An là kinh nghiệm đi lấy mật của những người thợ lấy mật. Cách người U Minh quan sát các nhành cây, hướng gió, đường đi của ong mật để đặt kèo.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Đọc văn bản 3 Video hướng dẫn giải Câu 3 (trang 23, SGK Ngữ văn 7, tập 1) So sánh sự khác biệt trong cách “thuần hóa” ong rừng của người dân vùng U Minh. Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ “Tôi ngồi nhìn lên kèo ong…U Minh này cả” Lời giải chi tiết: Cách 1 Người dân vùng U Minh có cách “thuần hóa” ong rừng bằng tổ ong hình dáng nhánh kèo. Đây là sự khác biệt so với người La Mã xưa, người Mễ Tây Cơ, người Ai Cập, châu Phi,…
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Sự khác biệt trong cách “thuần hóa” ong rừng của người dân vùng U Minh:
Người dân vùng U Minh đã có cách “thuần hóa” ong rừng bằng việc tạo tổ ong có hình nhánh kèo. Sự khác biệt trong cách "thuần hoá" ong rừng của người dân vùng rừng U Minh: ở U Minh tổ ong hình nhánh kèo khác biệt Dẫn dụ ong xây tổ bằng cách chọn các vị trí thích hợp
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 1 Video hướng dẫn giải Câu 1 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Đoạn trích có những nhân vật nào? Em hãy chỉ ra mối quan hệ giữa các nhân vật đó. Phương pháp giải: Em đọc kĩ lại văn bản và xác nhận mối quan hệ giữa các nhân vật Lời giải chi tiết: Cách 1 - Bốn nhân vật trong đoạn trích là: An, Cò, tía nuôi và má nuôi - Mối quan hệ của bốn nhân vật: An được ông lão bán rắn nhận làm con nuôi, anh em của thằng Cò. An đã được sống cùng với gia đình ba người họ như một gia đình hạnh phúc bình thường.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Trong đoạn trích có 4 nhân vật: tía nuôi, má nuôi, An và Cò. - Mối quan hệ của các nhân vật: Cò là con đẻ của tía má, An là con nuôi của tía má. - Đoạn trích gồm các nhân vật: An, Cò, tía nuôi và má nuôi. - Mối quan hệ giữa các nhân vật: Họ là những người thân trong một gia đình. An được ông lão bán rắn nhận làm con nuôi, còn Cò là con ruột của ông lão bán rắn. - Đoạn trích có bốn nhân vật : An, Cò, tía nuôi và má nuôi - Mối quan hệ của bốn nhân vật: An được ông lão bán rắn nhận làm con nuôi, anh em của thằng Cò. An đã được sống cùng với gia đình ba người họ như một gia đình hạnh phúc bình thường. - Đoạn trích có 4 nhân vật. Đó là: tía nuôi, má nuôi của An và thằng Cò. - Mối quan hệ: Tía nuôi và má nuôi của An là tía, má của thằng Cò.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 2 Video hướng dẫn giải Câu 2 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Nêu cảm nhận về nhân vật tía nuôi của An. Cảm nhận của em dựa trên những chi tiết tiêu biểu nào? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả hành động và cử chỉ của tía nuôi An Tía nuôi của An là một người lao động dày dạn kinh nghiệm, tính cách mạnh; giàu lòng nhân hậu, yêu thương con người và thiên nhiên. Những vẻ đẹp đó được thể hiện qua ngoại hình, qua cách ứng xử của ông với cậu bé An, với thiên nhiên. Một số chi tiết tiêu niểu: - Hình dáng bên ngoài của tía nuôi An toát lên vẻ đẹp của một người lao động từng trải, can đảm: vóc dáng khỏe mạnh. vững chãi; cử chỉ mạnh mẽ, dứt khoát... - Lời nói, cách cư xử của ông với An thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương dành cho cậu con nuôi: nghe An thở phía sau ông đã biết cậu bé mệt và cần nghỉ ngơi; chú tâm chăm lo cho An hơn Cò vì biết An chưa quen đi rừng... - Ông gác kèo cho ong rừng làm tổ rất giỏi và bảo vệ đàn ong, trân trộng sự sống Lời giải chi tiết: Cách 1 Bài tham khảo 1: Tía nuôi của An là một người đàn ông từng trải và rất quan tâm đến những đứa con. Đưa các con vào rừng “ăn ong”, ông đi trước, mang theo những vật dụng cần thiết như túi, cái gù, chà gạc và dẫn đường cho chúng. Một người từng trải và nhiều kinh nghiệm đi rừng sẽ luôn đi trước để dẫn dắt. Bên cạnh đó, chi tiết ông nói các con nghỉ chân ăn cơm cho thấy ông là người cha quan tâm và yêu thương con. Tuy không cần quay lại nhìn nhưng chỉ cần nghe nhân vật “tôi” thở, ông cũng cảm nhận được cậu bé đang mệt, cần nghỉ ngơi.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Bài tham khảo 2: Tía nuôi của An là một chăm chỉ làm lụng, trải qua những sương gió của cuộc đời ông đã có cho mình những kinh nghiệm quý báu về công việc. Ông có những hành động rất dứt khoát và mạnh mẽ khi đang đi làm, phục vụ công việc của mình: “Tía nuôi tôi chỉ nghe tôi thở đằng sau lưng ông thôi mà biết chứ ông có quay lại nhìn tôi đâu”. Nhưng tía nuôi cũng là một người đầy tình cảm, ông đã cầm tay thằng An để hướng dẫn và chỉ cho nó thấy những điều hay của rừng già. - Cảm nhận về nhân vật tía nuôi của An: Tía nuôi của An là một người rất cẩn thận và chu đáo, tâm lí với con cái. - Cảm nhận đó được thể hiện qua chi tiết: thôi dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hẵng đi! Nghe tiếng thở sau lưng cũng biết An mệt. - Tía nuôi của An là một người từng trải, hiểu biết nhiều và yêu thương con cái. - Chi tiết tiêu biểu: + Khi đưa con vào rừng, ông đi trước để dẫn đường: “Lâu lâu ông lại vung tay lên một cái, đưa con dao rừng rất sắc phạt ngang một nhánh gai và dùng cái mẩu cong ở đầu lưỡi dao dài có đến sáu bảy tấc, ấy lôi phăng nhánh gai chắn đường vứt ra một bên để lấy lối đi”. + Khi thấy An mệt, ông đã bảo các con dừng lại ăn cơm và nghỉ ngơi: “Thôi, dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hẵng đi…”. Nhân vật tía nuôi của An: người khỏe mạnh, tinh nhanh, lành nghề. Cảm nhận của em dựa trên những chi tiết tiêu biểu: - Lâu lâu, ông vung tay lên một cái, đưa con dao rừng rất sắc phạt ngang một nhành gai và dùng cái mẩu cong ở đầu lưỡi dao dài có đến sáu bảy tấc ấy lôi phăng nhái gai chắn đường vứt ra một bên để lấy lối đi. - Ông không cần nhìn, chỉ nghe tiếng thở dốc cũng biết là An mệt. - Biết đoán hướng gió, nơi ong làm tổ.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 3 Video hướng dẫn giải Câu 3 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của ai? Em hãy nhận xét khả năng quan sát và cảm nhận về thiên nhiên của nhân vật ấy. Phương pháp giải: Em đọc kĩ lại văn bản đoạn miêu tả cảnh sắc rừng U Minh để tìm câu trả lời. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của cậu bé An. Nhân vật An đã quan sát, cảm nhận được vẻ đẹp phong phú, đầy chất thơ của rừng U Minh: buổi bình minh yên tĩnh, trong vắt, mát lành; buổi trưa tràn đầy nắng, ngây ngất hương thơm của hoa tràm, tiếng chim hót líu lo và hàng ngàn con chim vụt bay lên: những loài cây thơm của hoa tràm, tiếng chim hót líu lo và hàng con chim vụt bay lên; những loài cây và màu sắc của từng phiến lá, những loài côn trùng bé nhỏ, kì lạ; thế giới đầy bí ẩn của loài ong... - Những bức tranh thiên nhiên cho thấy An có khả năng quan sát tinh tế, có tâm hồn trong sáng, biết phát hiện, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của nhân vật An. - Khả năng quan sát và cảm nhận thiên nhiên của nhân vật An tinh tế, chi tiết, cụ thể. Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của An. Khả năng quan sát và cảm nhận của An: tinh tế, biết phát hiện ra những cái đẹp của thiên nhiên. - Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của nhân vật An. Cảnh sắc thiên nhiên hiện ra vô cùng sống động, tràn đầy sức sống. Cảnh sắc ấy còn có cả sự kết hợp của cỏ cây, mây trời và các loài vật nhỏ bé trong rừng. - Qua đó cho thấy nhân vật An có một cái nhìn về thiên nhiên rất tinh tế, sâu sắc. - Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của An. - Khả năng quan sát và cảm nhận về thiên nhiên của An về thiên nhiên sâu sắc, tinh tế.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 4 Video hướng dẫn giải Câu 4 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Theo em, nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở đâu? Điều gì khiến em khẳng định như vậy? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ “Qủa là tôi đã mệt…gì nữa là!” Lời giải chi tiết: Cách 1 Theo em, nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở vùng đất rừng phương Nam. Chi tiết nhân vật “tôi” suy nghĩ về nhân vật Cò “Cặp chân của nó như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng…” đã cho thấy điều đó.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở vùng núi rừng U Minh. - Khẳng định như vậy là bởi: + Cò có những hiểu biết về rừng, nhận biết bầy ong mật. + Qua lời chia sẻ của An: Cặp chân như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng. Nhân vật Cò sinh ra và lớn lên ở đất rừng phương Nam. Bởi cậu đã quen thuộc với khu rừng, biết được cách nhìn ong mật… - Theo em, nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở trong rừng. - Em khẳng định qua chi tiết “Cặp chân của nó như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng…” - Nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở ven rừng U Minh. - Em khẳng định được như vậy bởi vì tía của Cò thường hay vào rừng "ăn ong", Cò thường đi theo và có am hiểu rừng và các loài trong rừng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 5 Video hướng dẫn giải Câu 5 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết nào (ngoại hình, lời nói, hành động, suy nghĩ, cảm xúc, mối quan hệ với các nhân vật khác…)? Em hãy dựa vào một số chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách của nhân vật An. Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật An Lời giải chi tiết: Cách 1 Nhân vật An được nhà văn miêu tả qua những chi tiết: - Hành động: + chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn. + Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật + Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp + Ngước nhìn tổ ong như cái thúng. - Suy nghĩ: + Về những lời má nuôi đã dạy mà không có trong sách giáo khoa. + Về thằng Cò: An nghĩ Cò chưa thấm mệt vì cặp chân như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng còn chẳng thấy mùi; + Lặng im vì nghĩ rằng nếu hỏi gì thì bị khinh vì cái gì cũng không biết. + Nghĩ lại những lời má kể - Trạng thái, cảm xúc: + Mệt mỏi sau một quãng đường đi. + Vui vẻ reo lên và đúc kết ra những điều quý giá để có thể nhìn thấy được bầy ong mật. - An có những quan sát và miêu tả rất tinh tế về khu rừng U Minh. - An có mối quan hệ rất tốt với bá nuôi và tía nuôi, cậu bé luôn lắng nghe những lời chỉ bảo của mọi người. Tuy An với Cò rất hay cãi nhau, nghịch ngợm nhưng cũng đều là những người thân thiết, gắn bó. → An là một cậu bé nghịch ngợm nhưng lại ham học hỏi và khám phá. Cậu bé có những suy nghĩ, quan sát và rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
- Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết: + lời nói: ôn hòa với thằng Cò, lễ độ với ba má. + hành động: chen vào giữa, quảy cái gùi bé; đảo mắt nhìn + suy nghĩ, cảm xúc: qua lời má kể vẫn chưa hình dung về cách “ăn ong”, khi được đi thực tế thì đã so sánh được sự khác biệt ở vùng U Minh với các vùng khác trên thế giới; cảm thấy lạ lẫm vì không gian im lìm ở trong rừng; ngạc nhiên về vẻ đẹp rừng U Minh với đa dạng loài chim và âm thanh; tự ái khi hỏi thằng Cò nhiều thứ. + mối quan hệ với các nhân vật khác: với Cò xưng tao- mày thể hiện quan hệ bình đẳng; với ba má nuôi thì xưng hô lễ phép. => Tính cách của nhân vật An: là cậu bé hồn nhiên, ngoan ngoãn nhưng hết sức hiểu chuyện và cũng ham học hỏi và hiểu biết rộng. - Lời nói: “Chịu thua mày đó, tao không thấy con ong mật đâu cả!”, “Sao biết nó về cây này mà gác kèo”, “Kèo là gì, hở mả?”... - Hành động: chen vào giữa, quẩy tòn ten một cái gùi bé; Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật; Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp ; Ngước nhìn tổ ong như cái thúng… - Suy nghĩ: những lời má nuôi kể, về thằng Cò… - Trạng thái, cảm xúc: mệt mỏi sau một quãng đường dài, vui vẻ và thích thú khi nhìn thấy đàn chim, tổ ong… - Mối quan hệ với các nhân vật khác: yêu mến và khâm phục, nghe lời tía nuôi, má nuôi; hay cãi nhau với Cò nhưng cũng rất yêu quý cậu… => An là một cậu bé hồn nhiên, nghịch ngợm nhưng cũng rất ham học hỏi, khám phá. Nhân vật An được nhà văn miêu tả qua những chi tiết: - Hành động: + Chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn. + Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật + Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp + Ngước nhìn tổ ong như cái thúng. - Suy nghĩ: + Về những lời má nuôi đã dạy mà không có trong sách giáo khoa. + Về thằng Cò: An nghĩ Cò chưa thấm mệt vì cặp chân như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng còn chẳng thấy mùi; + Lặng im vì nghĩ rằng nếu hỏi gì thì bị khinh vì cái gì cũng không biết. + Nghĩ lại những lời má kể - Trạng thái, cảm xúc: + Mệt mỏi sau một quãng đường đi. + Vui vẻ reo lên và đúc kết ra những điều quý giá để có thể nhìn thấy được bầy ong mật. - An có những quan sát và miêu tả rất tinh tế về khu rừng U Minh. - An có mối quan hệ rất tốt với bá nuôi và tía nuôi, cậu bé luôn lăng nghe những lời chỉ bảo của mọi người. Tuy An với Cò rất hay cãi nhau, nghịch ngợm nhưng cũng đều là những người thân thiết, gắn bó. → An là một cậu bé nghịch ngợm nhưng lại ham học hỏi và khám phá. Cậu bé có những suy nghĩ, quan sát và rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc. - Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết nào: + Lời nói: Cách nói xưng hô với tía, má: tía - con, má - con; cách xưng hô với thằng Cò: mày - tao; không đôi co với Cò ("Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả."). + Suy nghĩ: suy nghĩ về cách nuôi ong trên khắp thế giới. + Cảm xúc: cảm nhận về vẻ đẹp của khu rừng (ánh sáng, làn gió, loài vật,....) + Mối quan hệ với các nhân vật khác: đối với Cò: có lúc tự ái và sợ bị khinh, không dám hỏi nhiều; đối với tía, má: hỏi má nhiều, nói chuyện lễ phép với tía, má. => An là một cậu bé tò mò, ham hiểu biết, có sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế, có những cảm nhận đẹp, lãng mạn và nhạy cảm.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Sau khi đọc 6 Video hướng dẫn giải Câu 6 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Đọc đoạn trích, em có ấn tượng như thế nào về con người và rừng phương Nam? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích, nêu cảm nhận của em Lời giải chi tiết: Cách 1 Qua đoạn trích, em thấy con người và rừng phương Nam thật đẹp và đặc biệt. Con người nơi đây có vốn sống phong phú vừa có những nét sắc sảo, tự do, từng trải, vừa gần gũi, bình dị, hồn nhiên. Còn thiên nhiên đất rừng nơi đây quả thật rất hùng vĩ, đó vừa là sự hoang sơ của các cây già, đó là sự nên thơ của sinh vật trong rừng,….
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Đọc đoạn trích, em có ấn tượng về con người và rừng phương Nam: Vẻ đẹp trù phú của thiên nhiên với rừng rậm bạt ngàn, trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài. Con người chất phác, thuần hậu, trọng nghĩa, can đảm. Con người: am hiểu nhiều kiến thức, sống bình dị, tự do và phóng khoáng… Rừng phương Nam: hoang sơ, hùng vĩ với sự đa dạng sinh học. Đọc đoạn trích em thấy con người và rừng phương Nam thật đặc biệt và cũng thật đẹp. Ở con người em thấy là những người chăm chỉ, chịu khó, từng trải và có vốn sống phong phú. Rừng phương Nam thì thật đẹp, thật hùng vĩ nhưng cũng thật hoang sơ. Những ấn tượng của em về con người và rừng phương Nam thông qua đọc đoạn trích: - Con người phương Nam: bộc trực, thẳng tính, không để bụng, tình cảm. - Rừng phương Nam: đẹp và trù phú.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Viết kết nối với đọc Video hướng dẫn giải Câu hỏi (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) trình bày cảm nhận của em về một chi tiết thú vị trong đoạn trích Đi lấy mật. Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích và chọn một chi tiết mà em cho là thú vị để trình bày cảm nhận của bản thân Lời giải chi tiết: Cách 1 Trong đoạn trích “Đi lấy mật”, chi tiết người dân vùng U Minh “thuần hóa” ong rừng là một chi tiết thú vị. Trong khi các nơi khác nuôi ong bằng những chiếc tổ nhân tạo bằng những vật liệu khác nhau như tổ bằng đồng hình chiếc vại, tổ bằng đất nung, tổ bằng sành… thì người dân vùng U Minh nuôi ong kiểu tổ hình nhánh kèo. Vì biết tập tính của loài ong rừng, họ biết rằng không phải ngẫu nhiên mà ong đóng trên một cành cây nào đó nên họ đã định sẵn cho chúng một nơi để đóng tổ. Qúa trình dựng tổ cho ong cũng rất tỉ mỉ vì chúng không đóng chỗ rợp, ong chúa thì kị, không bao giờ đóng tổ ở những nơi còn mùi sắt của con dao chặt kèo. Sự độc đáo, mới lạ trong cách nuôi ong rừng đã khiến nơi đây trở nên khác biệt, không nơi nào xứ nào giống như vậy.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Trong đoạn trích Đi lấy mật thì những hình ảnh, những khám phá của cậu bé An khi theo tía nuôi và Cò vào trong rừng để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng người đọc. Hiện lên trên những cuộc trò chuyện, những bài học kinh nghiệm mà An rút ra được chính là khung cảnh bình yên của ba người sau khoảng thời gian mệt mỏi. Họ cùng nhau ngồi ăn, thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên dưới một gốc cây tràm. Bức tranh thiên nhiên với cả nhạc và họa như tô điểm thêm vẻ đẹp vốn có của rừng già. Nơi đây có những bóng cây nghiêng nghiêng, có những con gầm ghì, những chú vẹt,…. Khung cảnh người và thiên nhiên thật hòa hợp, yên bình. Đoạn trích Đi lấy mật kể về câu chuyện 3 cha con Cò An đi vào rừng lấy mật, qua đó tác giả bật mí cho chúng ta về cách làm tổ cho loài ong mật. Trong đoạn trích em ấn tượng nhất với “sân chim” trong khu rừng U Minh. Giữa rừng U Minh rậm rạp, những tia nắng len lỏi vào các tán lá để soi xuống mặt đất còn hơi sương; ánh nắng xen lẫn hương tràm ngây ngất phang phảng khắp rừng khiến con người cảm thấy dễ chịu. Trong không gian đó, một đàn chim hàng ngàn con cất cánh như vỡ trận, không gian im ắng bỗng ồn ào và náo nhiệt như nhà có hội với đủ sắc màu: chim già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ, chim nhỏ bay vù vù… Tất cả làm nên một không gian U Minh tuyệt vời khiến ai đọc cũng khao khát một lần được ghé thăm. Trong đoạn trích Đi lấy mật em ấn tượng nhất với chi tiết khi đi vào rừng. Tía nuôi An chỉ nghe tiếng thở của An mà ông biết là An đang mệt và bảo mọi người dừng lại nghỉ. Qua đó thể hiện được sự tinh tế của tía nuôi An cũng như sự yêu thương của tía đối với các con. Khi đi vào rừng tía luôn là người đi trước dẫn đường. Điều đó thể hiện được sự quan tâm, yêu thương của tía nuôi An đối với An. Trong đoạn trích Đi lấy mật, em để ý nhiều nhất đến chi tiết mấy con kì nhông đổi màu để ngụy trang. Cái nhìn, cảm nhận về khu rừng không chỉ là cái nhìn của nhân vật An mà còn là cái nhìn của tác giả. Chính cái nhìn đó đã cho ta thấy được vẻ đẹp của khu rừng: có hương thơm cây trái, có cả sự đa dạng của các loài động vật. Người đọc đồng thời bàng hoàng về vẻ đẹp thiên nhiên, đồng thời bàng hoàng về sự cảm nhận tỉ mỉ, tinh tế của người viết. Đoạn trích Đi lấy mật quả thực đã giúp em thấy được những vị mật khác của khu rừng phương Nam.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Đi lấy mật
+
Đi lấy mật (Trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi) Buổi sáng, đất rừng thật là yên tĩnh. Trời không gió, nhưng không khí vẫn mát lạnh. Cái lành lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, của đất ấm và dưỡng khí thảo mộc thở ra từ bình minh. Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như là nó bao qua một lớp thủy tinh. Tía nuôi tôi đi trước, bên hông lủng lẳng chiếc túi da beo, lưng mang cái gùi bằng tre đan đã trát chai, tay cầm chà gạc. Lâu lâu, ông vung tay lên một cái, đưa con dao rừng rất sắc phạt ngang một nhánh gai và dùng cái mẩu cong ở đầu lưỡi dao dài có đến sáu bảy tấc ấy lôi phăng nhánh gai chắn đường vứt ra một bên để lấy lối đi. Thằng Cò đội cải thủng to tướng, trong thúng đựng một vò nước, mấy gói cơm nắm và cái áo ướt mồ hôi nó vừa cởi ra cuộn lại, trên thúng úp chiếc nón lá rách. Tôi đã chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn của nhà ai ngoài xóm bìa rừng từ chiều hôm qua. Con Luốc chạy tung tăng sục sạo trong các bụi cây. Lần đầu tiên tôi theo tía nuôi tôi và thằng Cò đi “ăn ong” đây! Mấy hôm trước, má nuôi tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe cách gác kèo ong thế nào, nhưng tôi vẫn chưa hình dung được “ăn ong” ra sao. Những điều má nuôi tôi kể, trong các sách giáo khoa không thấy nói. Khoa học tự nhiên ở trường chỉ mới cho tôi một khái niệm chung chung về xã hội loài ong, ve những lợi ích của con ong, đại khái vậy thôi. Hiển nhiên từ những thời xa xôi thuở con người ăn lông ở lỗ cho đến ngày nay, người ta vẫn đi tìm lấy mật rừng bằng cách theo dấu đường bay của những con ong về tổ. Người ta phải khó nhọc lắm mới đưa được con ong rừng về nuôi thành con ong nhà, vì như thế, việc lấy mật sẽ dễ dàng và bảo đảm hơn. Trong kho tàng kinh nghiệm của những nhà nuôi ong trên thế giới ghi chép trong các sách vở mà tôi được nghe thấy giáo tôi kể, không thấy có nơi nào nói đến việc lấy mật bằng cách gác kèo như má nuôi tôi đã bảo cho tôi nghe vừa rồi. - Thôi, dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hẵng đi! - Tía nuôi tôi ra lệnh cho chúng tôi như vậy. Quả là tôi đã mệt thật. Tía nuôi tôi chỉ nghe tôi đằng sau lưng ông thôi mà biết chứ ông có quay lại nhìn Tía nuôi tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây ngái, nhồi thuốc lá vào tẩu. Con chó săn trung thành bao giờ cũng ngồi bảo vệ bên chân chủ. Thằng Cò bưng vò nước ra, ngừa cổ kề miệng vào vò uống nước ừng ực. Bỗng nó đặt vò nước xuống, thúc vào lưng tôi - Đố mày biết con ong mật là con nào? Hỏi xong, nó đưa tay trỏ lên phía trước mặt. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi vẫn không thấy gì. Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu. Hay vẫn có tiếng chim ở một nơi xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng? Cao quá đầu tôi một với tay, có những chấm đen không nhúc nhích. Đó là ruồi xanh đang bay đứng. Óng ánh lướt những lá bông súng dưới vũng kia là con chuồn chuồn bay ngang với những cánh mỏng và dài. Bé như hạt khế, cứ lắc lư lắc lư từ đất nhoi lên và đáp vào một cành ngải khô trên đầu tía nuôi tôi là điệu bay của con mối cánh. - Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả. Thằng Cò nghe tôi chịu thua, nó bèn vênh mặt lên cười, quay sang tôi: - Bây giờ mày cứ nhìn kĩ vào khoảng cách giữa hai nhánh tràm cao kia! Ờ! Đúng rồi. Nhìn một chỗ trống ấy. Đã lâu lắm mà sao tôi chưa thấy gì cả. Tôi vừa toan đứng dậy thì tía nuôi tôi đã đến cầm tay tôi trỏ lên: - Đó, con thấy nó chưa? - Thấy rồi! Tôi kêu khe khẽ. Ờ, phải rồi! Phải hết sức tinh mắt, thính tai mới tìm được những tay sứ giả của bình minh này. Một con... hai con... ba con... Rồi một đàn mười mấy bay nối nhau như một xâu chuỗi hạt cườm, trong những tầng xanh cây lá, có một cái chấm nâu đen cỡ đầu đũa vụt qua rất nhanh. Trên những ngọn tràm cao, đang lướt qua một đàn li ti như nắm trấu bay, phát ra những tiếng kêu eo... eo... Chúng tôi giở những nắm cơm vắt ra. Ăn xong, bấy giờ bóng nắng mới bắt đầu lên. Gió cũng bắt đầu thổi rao rao theo với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ tỏa lên, phủ mờ những bụi cây cúc áo, rồi nhè nhẹ tan dần theo hơi ấm mặt trời. Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần dần biến đi. Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Gió đưa mùi hương Chúng tôi tiếp tục đi tới một cái trảng rộng. Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vọt cất cánh bay lên. Chim áo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt... Những con chim nhỏ bay vù vù kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi. - Chim đẹp quá, Cò ơi! — Tôi tặc lưỡi, kêu lên. - Thứ chim cỏ này mà đẹp gì! - Ở đây chim nhiều quá. [...] - Thứ đồ bỏ, không ăn thua gì đâu. Mày mà gặp “sân chim” thì mày sẽ biết... Nó nói một cách lơ là như vậy rồi cứ cắm cúi đội cái thúng đi. Tôi muốn hỏi về cái “sân chim”, nhưng vì tự ái và nghĩ nếu mình gặp cái gì cũng hỏi thì nó sẽ khinh mình dốt, bèn im im đi tới. [...] Tôi chẳng hỏi gì thêm, cứ lặng thinh. Nó cũng không thèm chú ý đến vẻ mặt khó đăm đăm của tôi, cứ nắm tay tôi lôi đi, lại còn khoát tay ra hiệu bảo tôi đi thật khể Tôi nhìn theo ngón tay nó trỏ lên một kèo ong gác trên cây tràm thấp. Tổ ong kia rồi Sự mừng rỡ làm tôi quên phắt cái bực mình vừa qua. Tôi lại hỏi: - Sao biết nó về cây này mà gác kèo? - Thằng mau quên hé! Vậy chớ mấy bữa nay, má nói gì cho mày nghe đó? – Nó chành môi ra cười hì hì, trông cái miệng thấy ghét quá. - ... Rừng thì mênh mông, biết bao nhiêu cây! Một cây còn biết bao nhiêu nhánh! Biết con ong sẽ đóng tổ - Kèo là gì, hở má? - Ờ, kèo cũng là nhánh tràm thôi. Nó to cỡ cổ tay, mang nhiều nhánh con tua tủa vào quãng giữa. Mình chặt lấy một khúc dài non thước tây, một đầu có cái nhánh con nhiều bóng năng kia! Con ong không thích đóng chỗ rợp. O những nơi đó, bao giờ mật dùng làm cái mấu. Chọn được vùng rồi, còn phải chọn cây nào vừa kín, vừa im, có ít cũng chua, dễ bị ẩm. Gác chiếc kèo chênh chếch lên cây tràm xong, phải “rửa” bớt những nhánh chung quanh để khi lấy mật khỏi vướng. Kèo chặt vào khoảng giữa tháng Mười một. Những cơn mưa muộn sẽ rửa hết mùi sắt ở hai đầu kèo bị dao rựa chặt, và nhánh kèo cũng đủ thời gian khô đi, cũ đi, giống với những nhánh khô khác trên cây. Kèo nào còn mùi sắt của con dao mới chặt thì con ong mật chúa kị, nó không bao giờ đóng tổ đâu... - Coi bộ cũng không khó lắm hở má? Má nuôi tôi vò đầu tôi, cười rất hiền lành. Tôi cũng cười theo. Bà đằng hắng, nói: - Chẳng dễ đâu, con ạ! Nhiều người trở thành "dân ăn ong" đã năm mười năm trong nghề, vậy mà gác kèo xong tới mùa mật, mang gùi lên lưng vào rừng, lại mang gùi không trở về. - Ủa! Tại sao vậy, má? - Định không đúng chỗ, đoán sai hướng gió chứ sao! Mắt tôi vẫn không rời tổ ong lúc nhúc trên cây tràm thấp kia. [...] Tôi ngồi nhìn lên kèo ong, thấy nó cũng giống như những tổ ong rừng vẽ trong sách vậy thôi. Nhưng có điều khác là không phải ngẫu nhiên mà nó đóng trên một cành cây nào đó. Chính tía nuôi tôi đã định sẵn cho chúng nó một nơi về đóng tổ... Theo như lời thầy giáo của tôi bảo, người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ Mễ Tây Cơ) làm tổ nuôi ong bằng đất lô con vòng quanh miệng, quanh đáy. Người nung, như một cái ống có hai cái loa hai đầu, giữa lưng ống đắp một hình đầu người nho nhỏ làm vật trang trí, dùng hai sợi thừng treo lên cành cây. Người Ai Cập nuôi ong trong những tổ bằng sành, hình ống dài, xếp chồng lên nhau, đặt trên bãi cỏ. Ở Phi châu người ta đục ruỗng một khúc thân cây, vít kín hai đầu, chỉ chừa một lỗ khoét nho nhỏ cho ong ra vào, treo lên bằng một đoạn dây nhỏ có mấu. Ở xứ Tây Âu, tổ ong lại lợp, bện bằng rơm đủ kiểu, hình thù khác nhau... Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ Những con ong vẫn nối cánh nhau bay đi bay về trên tổ, trước mặt chúng tôi kia. Con nào cũng lượn một vòng tròn trước khi đáp xuống. Người ta bảo rằng đó là vũ điệu báo hiệu của loài ong. [..] Chúng tôi ngồi ăn cơm dưới một bụi cây tràm râm mát. Bóng nắng nghiêng nghiêng rọi chếch xuống chỗ tôi ngồi. Mấy con gầm ghì sắc lông màu xanh đang tranh nhau với bầy vẹt mỏ đỏ, giành mô những quả chín trên cây bồ đề. Lâu lâu, vài ba trái quả vàng rụng rơi lộp bộp, lăn vào cạnh chân tôi như hòn bi. rừng phương Nam, (Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2015, tr. 148-159)
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận