Soạn bài Người thầy đầu tiên SGK Ngữ Văn 7 tập 1 Kết nối tri thức - chi tiết

Hãy kể ngắn gọn về một thầy, cô giáo mà em đặc biệt yêu quý.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

- Tác phẩm cho người đọc cảm nhận được niềm tin vào cuộc sống, đó là câu chuyện không chỉ của người thầy mà còn của người cha có tấm lòng cao cả.

- Người thầy đầu tiên đã thành công khắc họa nên một câu chuyện tuyệt đẹp về tình thầy trò cũng như phản ánh được chế độ phong kiến lạc hậu với những quan niệm sai trái, không kém phần nặng nề.

Trước khi đọc

(trang 65 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Hãy kể ngắn gọn về một thầy, cô giáo mà em đặc biệt yêu quý.

Phương pháp giải:

Em nhớ lại và kể về người thầy, cô mà em yêu quý theo gợi ý sau:

- Thầy cô giáo chủ nhiệm hay dạy bộ môn lớp mấy

- Thầy cô có tính cách như thế nào, giúp em những gì….

- Những điểm nào khiến cho em ấn tượng nhớ mãi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Người cô mà tôi yêu quý và để lại ấn tượng sâu sắc nhất là cô giáo chủ nhiệm hồi lớp Sáu. Ngày đó, tôi mới chuyển cấp từ tiểu học sang trung học cơ sở, tôi còn nhiều bỡ ngỡ và không quen với môi trường mới. Cô là người đã giúp đỡ và bảo ban tôi rất nhiều. Cô luôn quan tâm đến học trò, đặc biệt là những bạn học sinh có học lực kém hơn một chút. Cô dạy môn Văn nên trước khi vào bài học cô thường cho chúng tôi chơi trò chơi khởi động, ai cũng thích thú khi đến tiết học của cô. Có những bài khó chúng tôi không hiểu, cô đều giảng giải lại một cách tỉ mỉ. Cô giảng bài rất hay, những bài học bổ ích của cô đã giúp chúng tôi tiến bộ lên nhiều. Dù lên lớp Bảy cô không còn chủ nhiệm và dạy môn Ngữ văn lớp tôi nữa nhưng tôi vẫn luôn yêu quý và kính trọng cô.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Mỗi người chúng ta đều được học các thầy cô giáo khác nhau, và mỗi chúng ta sẽ có những cảm nhận ấn tượng về thầy cô khác nhau. Các bạn hãy chia sẻ với mọi người về thầy/cô mà bạn yêu quý.

Em rất yêu quý cô Lan. Cô là giáo viên chủ nhiệm của lớp em. Năm nay, cô ba mươi sáu tuổi. Cô rất xinh đẹp, dịu dàng. Cô có gói nhẹ nhàng, ấm áp. Mỗi giờ học, chúng em đều chăm chú lắng nghe cô giảng bài. Cô cũng rất quan tâm đến học sinh.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc văn bản 1

Câu 1 (trang 65 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Người kể chuyện ở đây là ai?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý lời kể của nhân vật “tôi” ở phần (1)

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Người kể chuyện ở phần (1) là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Người kể chuyện là anh họa sĩ xưng tôi

Người kể chuyện: Người họa sĩ

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc văn bản 2

Câu 2 (trang 70 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Người kể chuyện ở phần (4) là ai?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý lời kể của nhân vật “tôi” ở phần (4)

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Người kể chuyện ở phần (4) vẫn là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Người kể chuyện ở phần (4) là: anh họa sĩ xưng tôi

Người kể chuyện: Người họa sĩ

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc văn bản 3

Câu 3 (trang 70 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Người kể chuyện băn khoăn, trăn trở về điều gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (4) từ đoạn “Tuy vậy tôi vẫn muốn…xa xăm kì ảo”

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Người kể băn khoăn, trăn trở về việc tưởng chừng sẽ chẳng ra gì hết khi không thể không vẽ bức tranh người thầy đầu tiên của làng

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Người kể chuyện băn khoăn, trăn trở về: bức tranh đang dở dành tặng người thầy đầu tiên của làng.

Người kể chuyện băn khoăn về bức tranh sẽ dở dang, chẳng ra gì hết.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Xác định người kể chuyện và ngôi kể trong từng phần của đoạn trích.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý lời kể và lời thoại của nhân vật “tôi” qua từng phần

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Người kể chuyện qua các phần là:

+ Phần (1), (4) người kể chuyện là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai

+ Phần (2), (3) người kể chuyện là An-tư-nai

- Ngôi kể trong cả 4 phần đều sử dụng ngôi thứ nhất xưng “tôi”.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Người kể chuyện và ngôi kể trong từng phần của đoạn trích là:

Phần

Người kể

Ngôi kể

1

Anh họa sĩ

Thứ nhất

2

An-tư-nai

Thứ nhất

3

An-tư-nai

Thứ nhất

4

Anh họa sĩ

Thứ nhất

Phần (1): ngôi kể thứ nhất - người họa sĩ.

Phần (2): ngôi kể thứ nhất - bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va.

Phần (3): ngôi kể thứ nhất - bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va.

Phần (4): ngôi kể thứ nhất - người họa sĩ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Các nhân vật người kể chuyện trong đoạn trích có mối quan hệ với nhau như thế nào?

Phương pháp giải:

Xác định người kể chuyện và chỉ ra mối quan hệ giữa các nhân vật

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Các nhân vật người kể chuyện trong đoạn trích có mối quan hệ đồng hương với nhau. Họ đều sinh ra và lớn lên ở làng Ku-ku-rêu; hiện cùng sống ở Mát-xcơ-va và có quen biết nhau. Họ cùng được mời về dự lễ khánh thành ngôi trường mới của quê hương

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Các nhân vật người kể chuyện trong đoạn trích có mối quan hệ: hai người cùng một làng, cùng được mời về dự khánh thành ngôi trường mới.

Người họa sĩ và bà An-tư-nai là đồng hương của nhau.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Qua cuộc trò chuyện giữa các bạn nhỏ và thầy Đuy-sen ở phần (2), em hình dung như thế nào về hoàn cảnh sống của An-tư-nai?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (2), chú ý các chi tiết hoàn cảnh sống của An-tư-nai

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Qua cuộc trò chuyện giữa các bạn nhỏ và thầy Đuy-sen ở phần (2), An-tư-nai là trẻ mồ côi, ở với chú thím, cuộc sống thiếu thốn cả về vật chất và tình cảm, không được chăm sóc, yêu thương

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Hoàn cảnh sống của An-tư-nai qua cuộc trò chuyện giữa thầy và các bạn nhỏ là mồ côi cha mẹ, sống cùng chú thím, cuộc sống khó khăn, phải đi kiếm phân bò, phân ngựa khô về để làm chất đốt.

Hoàn cảnh sống của An-tư-nai rất khó khăn: Mồ côi cha mẹ, sống cùng chú thím, thiếu thốn về cả vật chất và tình cảm…

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Em hãy đọc kĩ phần (3) của đoạn trích và trả lời các câu hỏi sau:

a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật nào?

b. Những chi tiết tiêu biểu nào được nhà văn sử dụng để khắc họa nhân vật thầy Đuy-sen?

c. Khái quát đặc điểm tính cách nhân vật thầy Đuy-sen

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (3), chú ý những chi tiết về thầy Đuy-sen

Lời giải chi tiết:

Cách 1

a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai

b. Những chi tiết tiêu biểu được nhà văn sử dụng để khắc họa nhân vật thầy Đuy-sen:

- Ngôn ngữ đối thoại: trò chuyện, thuyết phục các em nhỏ đi học; động viên, khích lệ An-tư-nai,...

- Hành động: một mình sửa sang nhà kho cũ thành lớp học; bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông buốt giá; kiên trì dạy chữ cho các em bất chấp hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt, khắc nghiệt, sự đơn độc; mơ ước về một tương lai tươi sáng cho học trò

- Cảm xúc, suy nghĩ của An-tư-nai về thầy: cảm nhận về lòng nhân hậu, tình yêu thương của thầy; mong ước thầy là người ruột thịt của mình…

c. Đặc điểm tính cách nhân vật thầy Đuy-sen: có mục đích sống cao đẹp, cương nghị, kiên nhẫn, nhân hậu, vị tha… trong đó, nổi bật nhất là tình cảm yêu thương, hết lòng vì học trò.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật: An-tư-nai.

b. Những chi tiết tiêu biểu được nhà văn sử dụng để khắc hoạ nhân vật thầy Đuy-sen là:

+ Thầy bế các em qua suối: lưng thì cõng, tay thì bế.

+ Thầy đi chân không, làm không ngơi tay. 

+ Khi thấy An-tư-nai ngã, thầy quẳng tảng đá trên tay, nhảy ngay lại, đỡ lên, rồi bế chạy lên bờ, lót chiếc áo choàng đặt An-tư-nai vào đó. 

+ Thày xoa hai chân, bóp chặt đôi tay lạnh cóng và đưa lên miệng hà hơi ấm.

c. Khái quát đặc điểm tính cách nhân vật thầy Đuy-sen: 

 Thầy Đuy-sen là một người thầy chu đáo, tận tâm và thương yêu học trò.

a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai.

b. Những chi tiết được nhà văn sử dụng để khắc họa nhân vật thầy Đuy-sen:

  • Bế hoặc cõng các em nhỏ qua suối.
  • Lấy đá và những tảng đất cỏ đắp thành các ụ nhỏ trên lòng suốt để bước qua cho khỏi bị ướt chân.
  • Khi An-tư-nai bị ngã ở suối, thầy đỡ An-tư-nai lên, đỡ lên bờ, lót chiếc áo choàng cho An-tư-nai ngồi và chăm sóc, sau đó một mình làm hết việc lấy đá và những tảng đất cỏ đắp thành các ụ.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

An-tư-nai đã dành cho thầy Đuy-sen tình cảm như thế nào? Nhờ “người thầy đầu tiên” ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi ra sao?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (3), (4)

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- An-tư-nai đã dành cho thầy Đuy-sen tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ và biết ơn vì tấm lòng nhân từ, những ý nghĩ tốt lành và những ước mơ của thầy về tương lai cô và những đứa trẻ. Cô ước thầy là anh ruột của mình, tình cảm thân thương như ruột thịt.

- Nhờ “người thầy đầu tiên” ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi, từ một cô bé mồ côi không biết chữ, ở một vùng quê nghèo khó, lạc hậu, từng bị người thím độc ác bán đi,... An-tư-nai đã có được cơ hội lên thành phố học tập và trở thành một viện sĩ nổi tiếng

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Tình cảm của An-tư-nai dành cho thầy Đuy-sen:

+ An-tư-nai ước thầy là anh ruột, được bá cổ thầy, thủ thỉ với thầy những lời đẹp đẽ nhất.

+ Yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai của học trò

- Nhờ “người thầy đầu tiên" ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi từ cô bé nghèo mồ côi trở thành bà viện sĩ Mát-xcơ-va.

c. Tính cách nhân vật thầy Đuy-sen: nhân hậu, kiên nhẫn, giàu tình yêu thương.

An-tư-nai đã dành cho thầy Đuy-sen: sự yêu mến, kính trọng.

Nhờ “người thầy đầu tiên” ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi: cố gắng học tập, trở thành một viện sĩ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 6

Câu 6 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Ở phần (4), nhân vật người họa sĩ đã có những ý tưởng gì cho bức tranh vẽ thầy Đuy-sen? Em ủng hộ ý tưởng nào của họa sĩ?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (4)

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Ở phần (4) nhân vật người họa sĩ đã có những ý tưởng cho bức tranh vẽ thầy Đuy-sen là: 

- Vẽ hai cây phong thầy Đuy-sen và An-tư-nai trồng, cùng đứa trẻ với đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo

- Vẽ cảnh tượng thầy Đuy-sen bế trẻ em qua con suối mùa đông

- Vẽ khoảnh khắc thầy Đuy-sen tiễn An-tư-nai lên tỉnh, sao cho bức tranh ấy diễn tả được tiếng gội cất lên từ tâm hồn Đuy-sen mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người

Em ủng hộ ý tưởng vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh vì nó thể hiện được mong muốn của người họa sĩ sao cho bức tranh ấy giống như tiếng gọi của thầy Đuy-sen mà cho đến nay vẫn còn vẳng lại, vang dội trong lòng mỗi người

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Ở phần (4), nhân vật người hoạ sĩ đã có những ý tưởng cho bức tranh vẽ thầy

Đuy-sen là:

+ Hai cây phong của An-tư-nai và Đuy-sen

+ Một đứa bé đi chân không, da rám nắng

+ Người thầy đầu tiên, bế trẻ con qua suối, cạnh đấy những con ngựa no nê hung dữ

+ Người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh

+ Một bức tranh giống tiếng gọi của Đuy-sen mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại.

- Em ủng hộ ý tưởng: “Người thầy đầu tiên”, đó là lúc Đuy-sen bế trẻ con qua suối, cạnh đấy những con ngựa no nê hung dữ, những con người đần độn, mũ lông cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông… Em ủng hộ ý tưởng này là bởi hình ảnh có sự đối lập giữa những con người ngu xuẩn, hung dữ với hình ảnh người thầy đang chăm lo cho học trò. Sự đối lập đó càng làm tăng thêm giá trị, vai trò của người thầy.

- Ý tưởng:

+ Vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai.

+ Vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng.

+ Vẽ thầy Đuy-sen bế trẻ con qua con suối và cạnh đấy, trên những con ngựa no nê hung dữ, những con người đần độn, mũ lông cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông.

+ Vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh.

- Mỗi ý tưởng đều thú vị, nhưng tôi ủng hộ nhất là ý tưởng vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 7

Câu 7 (trang 71 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Theo em, cách nhà văn thay đổi kiểu người kể chuyện ở các phần trong đoạn trích có tác dụng gì?

Phương pháp giải:

Theo dõi sự chuyển đổi lời kể của nhà văn để thấy được tác dụng của sự thay đổi đó

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Theo em, cách nhà văn thay đổi kiểu người kể chuyện ở các phần trong đoạn trích có tác dụng giúp người đọc có thể theo dõi linh hoạt câu chuyện được soi chiếu từ nhiều chiều, trở nên phong phú, hấp dẫn, chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Cách nhà văn thay đổi kiểu người kể chuyện ở các phần trong đoạn trích:  đầu tiên là họa sĩ kể chuyện, tiếp đến là An-tư-nai và kết thúc là họa sĩ kể chuyện. Người họa sĩ kể chuyện khiến cho câu chuyện được kể sẽ khách quan hơn bằng con mắt của người ngoài cuộc, và khi An-tư-nai kể người đọc sẽ tin tưởng vào nội dung câu chuyện và người đọc cũng thấy được cảm xúc chân thật của những người trong câu chuyện.

Giúp cho câu chuyện có được điểm nhìn đa dạng, câu chuyện trở nên có chiều sâu, hấp dẫn hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Viết kết nối với đọc

(trang 71, SGK Ngữ văn 7, tập 1)

Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) kể lại nội dung của phần (1) hoặc phần (4) văn bản Người thầy đầu tiên bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (1), (4) và xác định nội dung chính, sau đó dùng lời kể chuyện ngôi thứ ba để kể lại

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Kể lại phần (1):

Mùa thu năm ngoái, người họa sĩ nhận được một bức thư điện từ làng gửi đến mời ông về dự buổi khánh thành ngôi trường mới. Ông sẽ về làng dạo quanh, ngắm cảnh và vẽ ít bức kí họa. Ở đó ông gặp bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Bà đã viết cho ông một bức thư khi ông trở về thành phố. Bà An-tư-nai đã nhờ người họa sĩ kể lại câu chuyện cuộc đời bà cho mọi người, nhất là lứa tuổi trẻ. Và ông đã quyết định sẽ kể câu chuyện đó.

Kể lại phần (4):

Người họa sĩ đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại bức kí họa. Ông đi đi lại lại trong cảnh tĩnh mịch của buổi lê minh và cứ suy nghĩ mãi, bức tranh của ông mới chỉ là một ý đồ. Ông đã nghĩ ra nhiều ý tưởng để vẽ Người thầy đầu tiên. Đó là vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai, hoặc vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng, hoặc lúc Đuy-sen bế trẻ con qua suối trên những con ngựa nô nê hung dữ, những con người đần độn chế giễu ông, hoặc vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Mùa thu năm ấy anh họa sĩ nhận được một bức điện mời về dự khánh thành ngôi trường mới của làng. Nhận được thư anh rất vui và háo hức. Trong số những người được mời về dự có cả bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va là đồng hương với anh. Kết thúc buổi lễ cả hai cùng trở về thành phố. Bà viện sĩ đã viết thư cho anh nhờ kể lại câu chuyện về thầy Đuy-sen với dân làng và mọi người như một hành động chuộc lỗi. Anh họa sĩ đã mang nặng lòng những ấn tượng của lá thư ấy mấy ngày liền và quyết định thay mặt bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va kể hết câu chuyện. 

Người họa sĩ mở tung cửa sổ. Một luồng gió lùa vào phòng. Trên bàn là những bản vẽ vẫn còn dang dở. Ông đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại từ đầu. Và lần nào ông cũng thấy bức tranh của mình mới chỉ là một ý đồ. Nhiều ý tưởng để vẽ bức tranh “Người thầy đầu tiên” hiện ra. Người họa sĩ sẽ vễ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai, hoặc vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng, hay lúc Đuy-sen bế trẻ con qua suối trên những con ngựa nô nê hung dữ, những con người đần độn chế giễu ông, hoặc vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Người thầy đầu tiên
+

Người thầy đầu tiên

(Trich, Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp)

(1)

Mùa thu năm ngoái tôi nhận được một bức điện từ làng tôi gửi đến. Bà con trong làng mời tôi về dự buổi khánh thành ngôi trường mới do nông trường xây dựng. Tôi lập tức quyết định về làng, vì làm sao tôi có thể ngồi nhà trong một ngày vui của quê hương như thế được. Tôi còn về trước vài ngày nữa là khác. Tôi định bụng về sẽ dạo quanh, ngắm cảnh và vẽ ít bức kí hoạ"). Trong số những người được mời về dự hoá ra có cả bà viện sĩ Xu-lai-ma-nô-va (Sulaimanova). Tôi nghe nói bà về đây một hai hôm rồi đi thẳng lên Mát-xcơ-va (Moskva).

[...] Thế là bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va ra đi. Tôi trở lại thành phố và mấy hôm sau bỗng nhận được thư của bà. Bà cho biết là sẽ ở lại Mát-xcơ-va lâu hơn dự định và viết:

“Tuy có rất nhiều công việc quan trọng và khẩn cấp, tôi cũng đã quyết định gác hết lại và viết lá thư này cho anh... Nếu anh thấy điều tôi viết đây đáng được chú ý thì tôi khẩn khoản xin anh nghĩ xem làm thế nào cho mọi người cùng biết câu chuyện tôi sẽ kể. Tôi nghĩ không phải chỉ riêng bà con trong làng mà nói chung mọi
người, nhất là lứa tuổi trẻ, đều cần biết câu chuyện này." [...]

Tôi đã mang nặng trong lòng những ấn tượng của lá thư ấy mấy ngày liền. Và tôi không nghĩ ra được cách gì hơn là thay mặt bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va để kể hết chuyện này.

(2)

[...]  Có lần, mang những túi đựng đầy ki-giắc nhặt ở chân núi mẻ trên làng trở về, chúng tôi vòng vào trường xem thử thầy giáo đang làm gì ở đấy.

[….] Lúc chúng tôi đặt các bao ki-giắc xuống đất để nghỉ một lát, Đuy-sen từ trong cửa bước ra, người bê bết đất. Trông thấy chúng tôi, anh ngẩn người ra một lát, nhưng rồi lại mim cưỡi niềm nở, lấy tay quệt mồ hôi trên mặt

– Đi đâu về thế các em gái?

Chúng tôi ngồi cạnh những bao ki-giắc thẹn thò nhìn nhau, Đuy-sen hiểu rằng chúng tôi im lặng vì bẽn lẽn nên nháy mắt động viên:

- Những cái bao kia to hơn cả người các em đấy. Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi. Thầy vừa đắp lò sưởi ở góc nhà và bắc cả ống khói trên mái, các em thử nhìn xem! Giờ chỉ còn phải trữ sẵn củi để sưởi trong mùa đông nữa thôi, nhưng không sao, chung quanh thiếu gì củi khô. Dưới nền nhà ta sẽ trải rơm thật nhiều, thế là có thể bắt đầu học được rồi. Thế nào, các em thích học không, các em sẽ đi học chứ?

Tôi lớn hơn các bạn gái khác nên đánh bạo trả lời:

- Nếu thím em cho đi thì em sẽ đi.

– Sao thím em lại không cho, thế nào cũng cho chứ. Vậy tên em là gì?

- An-tư-nai. – Tôi vừa đáp vừa lấy tay che chỗ gấu váy thủng để hở một mảng đầu gối.

- An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không? – Đuy-sen mỉm cười hiền từ khiến tôi thấy lòng ấm hẳn lại.

- Thế em con ai?

Tôi lặng thinh; tôi vốn không thích có ai thương hại tôi.

- Chị ấy mồ côi ạ, chị ấy ở với chú thím. – Mấy đứa bạn tôi đỡ lời.

- Thế này nhé – Đuy-sen lại mỉm cười nói với tôi – An-tư-nai ạ, em sẽ dẫn các em khác đi học được chứ?

- Thưa chú được ạ.

- Các em cứ gọi thầy là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, đừng ngại gì cả.

- Không, chúng em phải về nhà đây. – Chúng tôi rụt rè nói.

– Thôi được, các em chạy về nhà đi. Khi nào đến học các em sẽ xem sau vậy. Giờ chưa tối, thầy đi lấy rạ khô lần nữa đã.

Cầm lấy chiếc liềm và sợi dây, Đuy-sen bước ra đồng. Chúng tôi cũng đứng dậy cõng những bao ki-giắc lên lưng và rảo bước về làng. [...]

 

(3)

Tiết trời đã sắp sang đông.

Trước những trận mưa tuyết đầu mùa, mỗi khi đi học, chúng tôi phải lội qua một con suối lòng đá chảy róc rách dưới chân đồi. Nhưng về sau không thể nào lội qua được nữa, vì nước băng lạnh buốt cóng cả chân. Khổ nhất là những em nhỏ, thậm chí chúng phải phát khóc lên. Những lúc ấy, thầy Đuy-sen đã bế các em qua suối. Lưng thì cõng, tay thì bế và cứ như thế thầy lần lượt đưa hết các em sang.

Giờ đây nhớ lại cảnh xưa, tôi thấy khó lòng mà tin được rằng tất cả những điều đó là có thật. Nhưng lúc bấy giờ, không biết vì ngu dốt hay vì nông nôi, người ta đã cười thầy Đuy-sen, nhất là bọn nhà giàu thường trú qua mùa đông ở trên núi và chỉ xuống làng khi cần xay thóc. Đã nhiều lần gặp chúng tôi ở chỗ lội qua suôi, bọn họ, đầu đội mũ lông cáo màu đỏ, mình mặc những chiếc áo lông cừu quý, nghễu nghện trên lưng những con ngựa hung dữ no căng, giương mắt nhìn thầy Đuy-sen rồi bỏ đi. Một tên trong bọn cười nấc lên và huých tay tên đi bên cạnh nói:

- Đứa thì cõng, đứa thì bế, trông đã hay chưa!

[...] Rồi họ quất cho ngựa chạy làm nước và bùn bắn tung toé lên chúng tôi, cười phá lên rồi đi khuất.

Sao lúc đó tôi muốn đuổi theo những con người ngu xuẩn ấy thế, muốn nắm lấy cương ngựa và quát thẳng vào những bộ mặt láo xược của họ: “Các người không được nói thầy giáo của chúng tôi như thế! Các người ngu lắm, các người tồi lắm"

Nhưng liệu có ai chịu nghe lời một con bé thơ dại như tôi?

Và tôi chỉ còn biết nuốt những giọt lệ căm uất đang trào lên, nóng hổi. Còn thầy Đuy-sen thì dường như không để ý đến những lời lăng mạ đó, coi như không nghe thấy gì hết. Thường là thầy nghĩ ra một câu chuyện vui nào đó khiến lũ chúng tôi phá lên cười, quên mất mọi sự.

Thầy Đuy-sen có cố gắng bao nhiêu cũng chưa kiếm đủ gỗ để bắc một chiếc cầu nhỏ suối. Có lần ở trường về, sau khi đã đưa hết các em nhỏ sang, tôi cùng với thầy Đuy-sen dừng lại bên bờ suối. Chúng tôi quyết định lấy đá và những tảng đất cỏ đắp thành các ụ nhỏ trên lòng suối để bước qua cho khỏi bị ướt chân.

[...] Hôm chúng tôi xếp đá qua dòng nước, tuyết đã phủ đầy trên mặt đất và nước buốt đến chết cóng đi
được. Tôi không tưởng tượng được thầy Đuy-sen làm thế nào chịu nổi ngơi tay. Tôi chật vật đặt chân xuống suối, tưởng chừng như dòng suối rải đầy vì thầy đi chân không, làm không than hồng nóng bỏng. Bỗng dưng đến giữa suối tôi bị chuột rút ở chân, người co rúm lại. Tôi không thể kêu lên một tiếng, cũng không thể đứng thẳng lên được nữa và từ từ ngã xuống nước. Thầy Đuy-sen lăng tảng đá đi, nhảy ngay lại bên tôi, đỡ tôi lên tay, rồi bế tôi chạy lên bờ và lót chiếc áo choàng đặt tôi ngồi vào đẩy. Thầy hết xoa hai chân đã tím bầm, cứng đờ như gỗ của tôi, lại bóp chặt đôi tay lạnh cóng của tôi trong lòng bàn tay mình, rồi đưa lên miệng hà hơi ấm cho tôi.

Thầy Đuy-sen khẽ nói:

-An-tư-nai, em ngồi đây cho ấm, đừng xuống nữa. Một mình thầy làm cũng đủ...

Cuối cùng khi những chỗ đặt chân xếp đã xong, Đuy-sen vừa xỏ chân vào ủng, vừa nhìn nét mặt ỉu xìu, tái mét của tôi và mỉm cười hỏi:

- Thể nào, cô em giúp việc, đã đỡ rét chưa? Khoác cái áo choàng lên, thế. thế! — Thầy yên lặng một lát rồi hỏi:

- An-tư-nai, lần ấy có phải em trút lại ki-giắc ở trường không?

- Vâng ạ. – Tôi đáp.

Thầy hơi nhếch mép mỉm cười, như thể tự nhủ: “Mình đoán đúng mà"

Tôi còn nhớ lúc ấy máu dồn lên má tôi nóng ran: như vậy nghĩa là thầy đã biết và chưa quên một điều tưởng như nhỏ mọn ấy. Tôi sung sướng quá, lịm cả người đi và Đuy-sen cũng hiểu niềm hân hoan của tôi.

– Dòng suối trong trẻo của thầy – thầy âu yếm nhìn tôi nói – em thông minh lắm... Ôi, ước gì thầy được gửi em ra thành phố lớn. Em còn sẽ khá hơn biết chừng nào.

Đuy-sen bước nhanh lên bờ.

Và giờ đây tôi mường tượng thấy thầy đang đứng trước mặt tôi, như lúc bấy giờ thầy đã đứng giữa dòng suối đá đang réo lên ầm ầm, hai tay để sau gáy và đôi mắt sáng long lanh đăm đăm nhìn theo những đám mây trắng xa tít đang bị gió thổi cuốn qua các núi.

Thầy nghĩ gì khi ấy? Có thể thầy đang mơ tưởng cho tôi ra một thành phố lớn học thật chăng? Còn tôi, lúc bây giờ cuộn tròn trong chiếc áo choàng của thầy Đuy-sen, tôi thầm nghĩ: “Ước gì thấy là anh ruột của tôi! Ước gì tôi được bá cổ thầy, nhằm nghiền mắt lại và thủ thỉ với thầy những lời đẹp đẽ nhất! Trời ơi, ước gì thầy Đuy-sen là anh ruột tôi!"

Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi. Tuy chúng tôi còn bé, nhưng tôi nghĩ rằng lúc đó chúng tôi đều đã hiểu được những điều ấy. Còn có cái gì khác bắt chúng tôi ngày nào cũng đi xa, leo đổi lội suối, bạt hơi vì gió rét, chân ngập trong những cồn tuyết như vậy được nữa? Chúng tôi tự nguyện đến trường, không phải ai xua chúng tôi đến cả. Không ai có thể buộc chúng tôi phải chịu cóng trong căn nhà kho lạnh lẽo. Tuy ngồi trong nhà, mà mõi khi thở ra là hơi giá bám trắng xóa cả mặt mũi, tay chăn, quần áo. Chúng tôi chỉ dám thay phiên nhau đứng sưởi cạnh lò, còn tất cả đành ngồi tại chỗ nghe thầy Đuy-sen giảng bài.

(4)

[….] Tôi mở tung các cửa sổ. Một luồng gió mát lùa vào phòng. Trong ánh lê minh xanh nhạt đang sáng
dần tôi nhìn kĩ những bản nghiên cứu phác thảo của bức tranh tôi vừa khởi công. Những bức vẽ ấy nhiều lắm. Tôi đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại từ đầu. Nhưng bây giờ mà nói về toàn bộ bức tranh thì hãy còn sớm. Tôi vẫn chưa tìm ra cái chính... Tôi đi đi lại lại trong cảnh tĩnh mịch của buổi lê minh và cứ suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Và lần nào cũng đều như thế. Lần nào tôi cũng lại thấy rõ ràng bức tranh của tôi chỉ mới là một ý đồ.

Tuy vậy tôi vẫn muốn nói với các bạn tác phẩm dở dạng của tôi. Tôi muốn hỏi ý kiến các bạn. Chắc các
bạn cũng đã đoán ra rằng bức tranh của tôi dành cho Người thầy đầu tiên của làng chúng tôi. [...] Tôi không thể không vẽ bức tranh này, nhưng sao tôi thấy băn khoăn, lo lắng quá! Có khi tôi tưởng chừng rồi sẽ chẳng ra gì hết. Và những lúc ấy tôi lại nghĩ: Tại sao số phận lại trớ trêu đặt cây bút vẽ vào tay tôi làm gì? Thật là một cuộc sống khổ ải! Lại có khi tôi cảm thấy mình dũng mãnh đến nỗi dù có phải chuyển núi dời sông tôi cũng sẵn sàng. Và những khi ấy tôi nghĩ: Hãy nhìn đi, hãy nghiên cứu, chọn lọc. Hãy vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai, chính hai cây phong đã cho tuổi thơ của mày bấy nhiêu giây phút sướng vui, mặc dù mày không biết rõ sự tích của chúng. Hãy vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng. Nó trèo lên cao, thật là cao và ngồi lên một cành phong, đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo.

Hay là vẽ bức tranh đề là “Người thầy đầu tiên”. Đó có thể là lúc Đuy-sen bế trẻ con qua con suối và cạnh đấy, trên những con ngựa no nê hung dữ, những con người đần độn, mũ lông cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông...

Nếu không, thì hãy vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh. Mày còn nhớ khi ông cất tiếng
gọi An-tư-nai lần cuối cùng! Hãy vẽ một bức tranh như thế, sao cho bức tranh ấy giống như tiếng gọi của Đuy-sen mà đến vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người.

(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Gia-mi-li-a (Jaymilya) — Truyện núi đồi và thảo nguyên,
Phạm Mạnh Hùng – Nguyên Ngọc Bằng – Cao Xuân Hạo – Bồ Xuân Tiến dịch,
NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2019, tr. 351 – 442)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close