Soạn bài Đọc mở rộng theo thể loại Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu SGK Ngữ văn 11 tập 1 Chân trời sáng tạo - siêu ngắn

Tóm tắt nội dung của văn bản trên. Theo bạn, những đặc điểm nào của thể loại truyện thơ đã được thể hiện qua văn bản. Việc Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu đã được thuật lại theo ngôi kể nào, qua điểm nhìn của ai? Nhờ vào đâu mà bạn biết?

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1

Câu 1 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Tóm tắt nội dung của văn bản trên. Theo bạn, những đặc điểm nào của thể loại truyện thơ đã được thể hiện qua văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, xác định những chi tiết nổi bật và nội dung chính để tóm tắt nội dung. 

Dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của mình, nêu những đặc điểm của thể loại truyện thơ đã được thể hiện qua văn bản

Lời giải chi tiết:

- Tóm tắt: Thị Mầu lên chùa về vãn tiểu Kinh Tâm

Thiện Sĩ, con của Sùng Ông, Sùng Bà, kết duyên cùng Thị Kính - con gái Mãng Ông. Một đêm nọ khi Thị Kính đang ngồi khâu còn chồng đang đọc sách rồi thiu thiu ngủ bên cạnh, thì bỗng dưng nàng nhìn thấy chồng có sợi râu mọc ngược nên cầm dao toan xén đi. Thiện Sĩ giật mình sợ hãi hét toáng lên thì bố mẹ chồng chạy vào vu oan cho Thị Kính có ý định giết chồng và đuổi Thị Kính về nhà bố đẻ. Từ đó, Thị Kính giả nam lên chùa Vân Tự được thầy đặt tên là Kính Tâm. Thị Mầu có con với người ở nhà phú ông nhưng đã đổ cho là con của Thị Kính, rồi đem con bỏ cho Thị Kính. Tiểu Kính hằng ngày đi xin sữa để nuôi con của Thị Mầu. Sau ba năm, Tiểu Kính để lại thư kể rõ sự tình rồi mất. Sư cụ cùng mọi người lập đàn giải oan cho Kính Tâm để nàng được siêu thoát. 

- Những đặc điểm của thể loại truyện thơ đã được thể hiện qua văn bản: 

+ Hình thức chèo - hát kịch, múa dân gian, kể chuyện, diễn tích bằng hình thức sân khấu.

+ Các nhân vật trong câu truyện được chia thành hai tuyến rõ ràng.

+ Kết hợp ngôn từ tự sự và trữ tình.

Xem thêm cách soạn khác

Câu 2

Câu 2 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Việc Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu đã được thuật lại theo ngôi kể nào, qua điểm nhìn của ai? Nhờ vào đâu mà bạn biết?

Phương pháp giải:

Từ nội dung văn bản, dựa vào ngôi xưng tác giả sử dụng, cho biết việc Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu được thuật lại theo ngôi kể nào, qua điểm nhìn nào, dấu hiệu nhận biết.

Lời giải chi tiết:

- Việc Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu được thuật lại theo ngôi kể thứ ba, qua điểm nhìn của tác giả.

- Nhờ vào các chi tiết nhằm kể lại sự việc Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu “Mẹ vò thì sữa khát khao,/Lo nuôi con nhẹn làm sao cho tuyền/ Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,/ Nhai cơm mớm sữa để nên con người.”

Xem thêm cách soạn khác

Câu 3

Câu 3 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Nhân vật Thị Kính hiện lên như thế nào qua văn bản? Từ đó, bạn có nhận xét gì về cách tác giả dân gian xây dựng nhân vật trong truyện thơ?

Phương pháp giải:

Từ nội dung của đoạn trích,  miêu tả nhân vật Thị Kính hiện lên qua văn bản. Từ nhân vật Thị Kính, nhận xét về cách tác giả dân gian xây dựng nhân vật trong truyện.

Lời giải chi tiết:

 Qua văn bản, nhân vật Thị Kính hiện lên là người phụ nữ dịu dàng, nết na, yêu thương gia đình và chồng con. Đặc biệt còn là một nhân vật giàu lòng bao dung, vị tha, hiểu lễ nghi, trọng phép tắc và kính Phật.

Tác giả đã xây dựng nhân vật Tiểu Kính theo hai tuyến: một tuyến là nhân vật đầy tâm sự, gánh chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời, và một tuyến là nhân vật có đức hạnh, kiên định trong niềm tin và tôn trọng lễ nghi. Bằng cách xây dựng nhân vật này theo đúng tuyến nhân vật có đức hạnh, tác giả đã thể hiện rõ ý nghĩa của việc giữ gìn và trân trọng giá trị của lễ nghi và tôn trọng đức hạnh.

Xem thêm cách soạn khác

Câu 4

Câu 4 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Văn bản trên đã thể hiện những đặc điểm nào của ngôn ngữ văn học, đặc biệt là ngôn ngữ của truyện thơ Nôm? Hãy phân tích để chứng minh điều đó.

Phương pháp giải:

Từ nội dung của đoạn trích, xác định những đặc điểm của ngôn ngữ văn học có trong văn bản, đặc biệt là ngôn ngữ của truyện thơ Nôm. Sau đó chứng minh.

Lời giải chi tiết:

 Văn bản trên đã thể hiện một số đặc điểm của ngôn ngữ văn học, đặc biệt là ngôn ngữ của truyện thơ Nôm. Cụ thể: 

- Ngôn ngữ gần gũi, là lời ăn tiếng nói hàng ngày “thầy - con”

- Ngôn ngữ giàu chất trữ tình, mang âm hưởng của các làn điệu dân ca Việt Nam “Khi trống tàn, lúc chuông dồn/ Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày”.....

Xem thêm cách soạn khác

Câu 5

Câu 5 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Thông điệp bạn nhận được qua đoạn trích trên là gì? Dựa vào đâu bạn cho là như vậy?

Phương pháp giải:

Từ nội dung văn bản, rút ra thông điệp cho bản thân.     

Lời giải chi tiết:

Qua đoạn trích “Thị Kính nuôi con Thị Mầu” , thông điệp mà em rút ra được là phẩm chất bao dung, vị tha dựa vào các tình huống truyện và cách xây dựng hình ảnh nhân vật Thị Kính - biểu tượng cho người phụ nữ xã hội phong kiến, vừa dịu dàng, nết na; vừa chứa đựng tấm lòng nhân hậu, sẵn sàng cứu giúp những mảnh đời khó khăn hơn mình, cho dù bản thân Thị Kính phải chịu tiếng oan.

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu
+

Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu

(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)

[...]

Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,

Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.

Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,

Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.

Góm thay mặt dạn mày dày,

Trân trận rằng giả con đây mà về.

Khéo xui ra đứa làm rễ riếu- mình.

Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,

Phúc thì làm phúc, do thì đành do.

Cá trong chậu nước sơn sơ,

Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.

Chẳng sinh cũng chịu cù lao,

Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.

Bữa sau sư phụ mới hay,

Dạy rằng: “Như thế thì thầy cũng nghi.

Phỏng như khác máu ru thì,

Con ai mặc nấy can gì đa mang”.

Bạch rằng: “Muôn đội thầy thương,

Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.

Dẫu xây chín đợt phù đồ,

Sao bằng làm phúc cứu cho một người.

Vậy nên con phải vâng lời,

Mệnh người dám lấy làm choi mà liều”.

Sư nghe thưa lại mấy điều,

Khen rằng: “Cũng có ít nhiều từ tâm

Rõ là nước lã mà nhầm, 

Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào

Mẹ vò thì sữa khát khao,

Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.

Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,

Nhai cơm móm sữa để nên con người.

Đến dân ai cũng chê cười,

Tiểu kia tu có trót đời được đâu.

Biết chăng một đứa thương đâu,

Mình là hai với Thị Mầu là ba?

Ra công nuôi bộ' thực là,

Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.

Khi trống tàn, lúc chuông dồn,

Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.

Phù trì như thổi ra ngay,

Lợ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.

Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,

Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là

Thoi đưa tháng trọn ngày qua,

Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.

Con mày mà giống cha nuôi,

Hình dung ý tử khác nào bản sinh.

Mai ngày đến lúc trưởng thành,

Cơ cầu® dễ rạng tiền trình hơn xưa.

[...]

(Trích Quan Âm Thị Kinh, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)


- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close