Soạn bài Tôi đã học tập như thế nào? SGK Ngữ văn 11 tập 2 Chân trời sáng tạo -siêu ngắnBạn đã học tập như thế nào trong những năm ở Tiểu học? Hãy hồi tưởng và chia sẻ với mọi người một kỉ niệm (vui/ buồn) về việc học tập của bạn trong quãng thời gian đó. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Trước khi đọc Câu 1 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Bạn đã học tập như thế nào trong những năm ở Tiểu học? Hãy hồi tưởng và chia sẻ với mọi người một kỉ niệm (vui/ buồn) về việc học tập của bạn trong quãng thời gian đó. Phương pháp giải: Hồi tưởng lại ký ức của bản thân về những năm học ở Tiểu học, từ đó chia sẻ với cô và các bạn về quá trình học tập ấy và những kỉ niệm về việc học tập trong quãng thời gian ấy. Lời giải chi tiết: Tôi rất tiếc nuối và hối hận vì mình đã không đạt được kết quả tốt trong bài kiểm tra đó. Một kỉ niệm vui và đáng nhớ hơn là khi tôi được nhận giải thưởng trong một cuộc thi viết văn của trường. Tôi đã dành nhiều thời gian để viết bài và rất vui mừng khi thấy công sức của mình được công nhận và đánh giá cao. Trong khi đọc 1 Câu 1 (trang 85, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nếu ở vào tình huống bỗng nhiên được cảm thông, khích lệ như Pê-xcốp, bạn sẽ có cảm xúc giống hay khác với cảm xúc của nhân vật này? Phương pháp giải: Liên hệ nội dung từ văn bản với bản thân mình khi được cảm thông, khích lệ để có thể trả lời câu hỏi. Lời giải chi tiết: Nếu ở vào tình huống bỗng nhiên được cảm thông, khích lệ như Pê-xcốp, cảm xúc của em sẽ giống với nhân vật, đó là cảm thấy ấm áp, vui vẻ, coi như mình gặp được cứu tinh bởi gặp người thực sự hiểu, đồng cảm Trong khi đọc 2 Câu 2 (trang 86, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Các câu hỏi của Đức Giám mục trong cuộc trò chuyện ở đoạn này có được Pê-xcốp đáp lại không? Những căn cứ nào giúp bạn nhận biết điều đó. Phương pháp giải: Theo dõi nội dung diễn biến phần văn bản, dựa vào những hành động, chi tiết nổi bật từ đó đưa ra suy luận của bản thân về việc Pê-xcốp đáp lại các câu hỏi của Đức Giám mục trong cuộc trò chuyện và căn cứ vào đâu lại đưa ra suy luận đó. Lời giải chi tiết: - Các câu hỏi của Đức Giám mục trong cuộc trò chuyện ở đoạn này có được Pê-xcốp đáp lại. - Tuy không được thể hiện trong văn bản qua hành động hay thoại của nhân vật Pê-xcốp nhưng người đọc có thể suy luận ra thông qua thoại của giám mục Cri-xan-phơ “...con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy” hay “những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé?” . Thêm vào đó, qua chi tiết tác giả diễn tả “giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó”....... Trong khi đọc 3 Câu 3 (trang 87, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Việc biết “đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi” có phải là dấu mốc quan trọng trên bước đường học tập, trưởng thành của Pê-xcốp không? Vì sao? Phương pháp giải: Theo dõi, khai thác nội dung, diễn biến của văn bản để tìm ra câu trả lời cho việc biết “đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi” có phải là dấu mốc quan trọng trên bước đường học tập, trưởng thành của Pê-xcốp không. Lời giải chi tiết: Nhân vật đã khoe với người đọc một cách vô cùng tự hào “một cách có ý thức”, đồng thời, thông qua hoàn cảnh của nhân vật Pê-xcốp, mười tuổi phải “vào đời”, lăn lộn kiếm sống nhưng với ưu điểm học nhanh và ham học của cậu thì cậu đã vượt lên chính mình và biết đọc một cách có ý thức. Đó là thành quả hết sức đáng tự hào của cậu nên đó cũng được coi là dấu mốc quan trọng trên bước đường học tập, trưởng thành của Pê-xcốp. Trong khi đọc 4 Câu 4 (trang 88, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Cụm từ “các bạn” trong đoạn văn này và đoạn kết tiếp cho thấy người kể chuyện đang hướng đến ai? Phương pháp giải: Đọc nội dung đoạn văn bản này và đoạn kết tiếp để xác định cụm từ “các bạn” mà người kể chuyện sử dụng hướng đến ai. Lời giải chi tiết: Hướng đến người đọc. Trong khi đọc 5 Câu 5 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Trong đoạn này, Pê-xcốp đang nói đến phần “con thú”, phần “con người” vốn có của ai và với mục đích gì? Phương pháp giải: Đọc đoạn văn bản, đưa ra suy luận dựa trên những chi tiết nổi bật để thấy được Pê-xcốp đang nói đến phần “con thú”, phần “con người” vốn có của ai và với mục đích gì? Lời giải chi tiết: - Trong đoạn này, Pê-xcốp đang nói đến phần “con thú”, phần “con người” vốn có của bản thân Pê-xcốp. - Với mục đích: chia sẻ, bộc bạch cảm xúc của mình với người đọc. Đồng thời ngầm đưa ra vai trò của mỗi cuốn sách trong việc hình thành và phát triển tư duy, nhân cách, con người ở mỗi chúng ta. Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Tóm tắt nội dung của văn bản. Phương pháp giải: Thông qua việc khai thác thông tin và trả lời những câu hỏi trong phần Đọc văn bản, đúc kết ra những sự kiện chính, từ đó tóm tắt nội dung của văn bản. Lời giải chi tiết: Cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây từ năm sáu tuổi đã được ông ngoại dạy đọc, ban đầu học chữ rất nhanh nhưng vì tính cách nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp dạy nên đã khiến cậu bé chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ. Ngay từ ngày đầu tới trường, Pê-xcốp đã bị bạn bè chế nhạo vì bộ dạng kì quặc. Tuy nhiên, sau đó, cậu bé đã nhanh chóng dàn xếp ổn thỏa với bạn bè trong lớp nhưng với thầy giáo và cha cố thì không thể. Với ưu thế tiếp thu và học khá nhưng lại mắc nhược điểm quá nghịch ngợm nên cậu bé này đã bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Điều đó đã khiến cậu chán nản. Trong lúc mọi chuyện đang trở nên rầy rà, vị Giám mục Cri-xan-phơ đã xuất hiện như một vị cứu tinh của Pê-xcốp. Giám mục Cri-xan-phơ đã khiến Pê-xcốp như được thấu hiểu, vỡ lẽ ra nhiều điều. Tới năm lên mười bốn tuổi, Pê-xcốp biết đọc một cách có ý thức và say mê, yêu đọc sách, từ đó, Pê-xcốp thấu hiểu được giá trị của những cuốn sách mang lại, hơn nữa còn có cái nhìn tinh tế với những điều mà sách nói đến với những cái mà cuộc sống khuyên bảo. Pê-xcốp ngày càng đắm chìm, say mê trong những cuốn sách hay, rút ra được những suy ngẫm đáng giá. Nhờ đọc sách, Pê-xcốp trở nên điềm tĩnh hơn xưa, tin ở mình hơn và làm việc hợp lý hơn, càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống. Cuối cùng, Pê-xcốp đã rút ra được bài học cho mình: mỗi cuốn sách đều là bậc thang đưa cậu tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần những quan niệm về cuộc sống tốt đẹp và sự thèm khát cuộc sống ấy. Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động như thế nào đến Pê-xcốp? Bạn có nhận xét gì về cách tác giả thuật lại cuộc trò chuyện này? Phương pháp giải: Khai thác nội dung văn bản đoạn nhân vật Pê-xcốp cùng các bạn trò chuyện với Đức Giám mục để tìm ra những tác động đến Pê-xcốp sau buổi nói chuyện đó, đồng thời đưa ra nhận xét của bản thân về cách tác giả thuật lại cuộc trò chuyện. Lời giải chi tiết: - Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động đến Pê-xcốp, sau buổi nói chuyện ấy, Pê-xcốp đã rất xúc động, cậu cảm nhận được một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực mình, dường như được lắng nghe và cảm thông, cho dù khi bị giữ lại bởi thầy giáo thì vẫn vui lòng, chăm chú nghe từ đầu tới cuối. - Cuộc trò chuyện được tác giả thuật lại chi tiết, cụ thể, đặc biệt là qua điểm nhìn của chính nhân vật, từ đó giúp cho nội dung, diễn biến trở nên chân thực, sống động, thuyết phục người đọc hơn. Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Bạn hiểu thế nào về phần “thú”, phần “người” và cuộc đấu tranh giữa hai phần này trong quan niệm của Pê-xcốp? Cách sử dụng ngôi kể, điểm nhìn trong văn bản đã có tác dụng gì trong việc thể hiện cuộc đấu tranh ấy? Phương pháp giải: Nêu lên ý hiểu của bản thân về phần “thú”, phần “người” và cuộc đấu tranh giữa hai phần này trong quan niệm của Pê-xcốp từ nội dung văn bản đã học. Đồng thời, qua việc khai thác, phân tích nội dung văn bản, xác định và chỉ ra tác dụng của việc sử dụng ngôi kể, điểm nhìn trong việc thể hiện cuộc đấu tranh ấy. Lời giải chi tiết: - Theo quan niệm của Pê-xcốp về phần “thú”, phần “người” và cuộc đấu tranh giữa hai phần này: Phần "con thú" của chúng ta biểu thị cho bản năng, sức mạnh và khát vọng sống, trong khi phần "con người" biểu thị cho tình yêu thương, đạo đức và sự cảm thông. Pê-xcốp cho rằng, nếu ta chỉ sống với phần "con thú" của mình thì sẽ trở thành những con thú hoang dã, cho nên, việc đọc sách để phát triển phần “con người”, giảm đi phần “con thú” sẽ giúp cho mỗi chúng ta tới gần hơn những quan niệm về cuộc sống tốt đẹp và về sự thèm khát cuộc sống. - Với ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn qua nhân vật “tôi” đã giúp việc thể hiện cuộc đấu tranh giữa phần “thú” và phần “người” trở nên sâu sắc, tác động mạnh mẽ tới người đọc. Nhờ vào góc nhìn này, độc giả được đưa vào cảm xúc, suy nghĩ, trải nghiệm tâm lý của nhân vật, thấu hiểu được những khó khăn và thách thức mà nhân vật đang phải đối mặt trong quá trình hoàn thiện bản thân. Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chỉ ra một số điểm khác nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa hai phần văn bản trước và sau câu “Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi”. Những khác biệt như vậy có làm mất đi sự thống nhất trong tính chỉnh thể của tác phẩm không? Vì sao? Phương pháp giải: Sau khi tìm hiểu nội dung của văn bản, vận dụng để nhận xét sự khác nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa hai phần văn bản trước và sau câu “Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi”. Đồng thời, đánh giá về những sự khác biệt ấy có làm mất đi sự thống nhất trong tính chỉnh thể của tác phẩm không? Lời giải chi tiết: + Ở phần đầu, nhân vật thuật lại câu chuyện đi học của mình bằng giọng điềm tĩnh, vui vẻ, lạc quan, hóm hỉnh. Phần đầu người đọc cảm nhận như nhịp kể có chút nhanh chóng, hồ hởi như chính tác giả của năm tháng tuổi thơ nghịch ngợm đủ trò đang kể lại chính câu chuyện đó. + Phần sau, tác giả đã khéo léo đưa ra những suy nghĩ, hồi tưởng; bộc bạch nội tâm của một người từng trải cho nên có thể thấy nội dung hoàn toàn trái ngược đoạn đầu, trở nên sâu sắc, trang nghiêm, giàu tính triết lí hơn. Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Phân tích một số chi tiết trong văn bản cho thấy nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm và nhận thức của nhân vật chính trong quá khứ có những điểm khác biệt. Giải thích lí do của sự khác biệt ấy. Phương pháp giải: Từ nội dung văn bản, khai thác một số chi tiết cho thấy nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm và nhận thức của nhân vật chính trong quá khứ có những điểm khác biệt, sau đó lý giải sự khác biệt đó. Lời giải chi tiết: - Một số chi tiết trong văn bản cho thấy nhận thức của nhân vật chính trong quá khứ: + “Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo” + “Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn” + “không có sách…không học thánh sử” + “Con chán học lắm” → Trong quá khứ, nhân vật là một đứa trẻ, nhận thức còn nhiều hạn hẹp, thiếu suy nghĩ và hành động còn bồng bột, cư xử theo bản năng của mình. - Một số chi tiết trong văn bản cho thấy nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm: + “không chỉ say mê tình tiết của sách…. mà tôi còn bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách của các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo” + “Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa” + “mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy” → Nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm vô cùng sâu sắc và nhân văn, những hành động và suy nghĩ đều được suy ngẫm kỹ lưỡng, tác giả nhìn cuộc sống bằng cái nhìn trưởng thành và suy tư hơn. - Có khác biệt vì sự suy nghĩ, quan sát của nhân vật phát triển từ góc độ của một đứa trẻ, cho nên việc bồng bột, nghịch ngợm là điều vô cùng tự nhiên. Trong khi đó, tác giả tại thời điểm viết lại là người lớn, có những tư tưởng suy nghĩ sâu sắc hơn. Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Phân tích một số chi tiết để làm rõ ý nghĩa của những trải nghiệm thực tế đời sống và tầm quan trọng của việc tự học qua sách đối với nhân vật Pê-xcốp. Phương pháp giải: Từ nội dung văn bản, khai thác một số chi tiết cho thấy ý nghĩa của những trải nghiệm thực tế đời sống và tầm quan trọng của việc tự học qua sách đối với nhân vật Pê-xcốp Lời giải chi tiết: - Một số chi tiết trong văn bản thể hiện ý nghĩa của những trải nghiệm thực tế đời sống nhân vật Pê-xcốp: + “..cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ” + “tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa” + “...có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào….” + “...có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như vậy” - Một số chi tiết trong văn bản thể hiện tầm quan trọng của việc tự học qua sách đối với nhân vật Pê-xcốp: + “...làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa” + “...lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình” + “.. trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lý hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống” + “....đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy”. → Có thể thấy, việc tự học qua sách đóng một vai trò vô cùng ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển nhân cách của nhân vật, sách đã làm thay đổi một cậu bé nghịch ngợm, bồng bột, thiếu chính chắn, mải chơi thành một người có ích hơn, sống cảm thông và biết chia sẻ, có những suy nghĩ sâu xa, đứng đắn. Bài tập sáng tạo Bài tập sáng tạo (trang 89, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hãy viết về một cuốn sách hoặc một tác phẩm nghệ thuật góp phần thay đổi suy nghĩ của bạn trong đoạn văn (khoảng 200 chữ) Phương pháp giải: Từ trí tưởng tượng và tài năng sáng tạo của mình để viết một đoạn văn giới thiệu tới thầy cô và các bạn trong lớp một cuốn sách hoặc một tác phẩm nghệ thuật góp phần thay đổi suy nghĩ của bạn Lời giải chi tiết: Bài tham khảo: Cuốn sách đã thay đổi suy nghĩ của tôi là "Sức Mạnh của Sự Tích Cực" (The Power of Positive Thinking) của tác giả Norman Vincent Peale. Đây là một trong những cuốn sách tâm lý học nổi tiếng nhất và được viết ra nhằm giúp con người cải thiện suy nghĩ tích cực, tăng cường sức mạnh tinh thần và đạt được thành công trong cuộc sống. Trước khi đọc cuốn sách này, tôi thường xuyên suy nghĩ tiêu cực về bản thân và không tin vào khả năng của mình. Tuy nhiên, những lời khuyên trong sách đã thực sự làm thay đổi cách suy nghĩ của tôi. Tác giả giải thích rằng, nếu chúng ta tin tưởng vào khả năng của mình và luôn tập trung vào những điều tích cực, thì chúng ta sẽ đạt được thành công mà mình mong muốn. Tác giả cũng cung cấp nhiều kinh nghiệm và kỹ năng để tăng cường sức mạnh tinh thần của chúng ta, như học cách kiểm soát tâm trạng, tập trung vào giải pháp chứ không phải vấn đề, và thực hành tư duy tích cực. Sau khi đọc cuốn sách này, tôi đã thay đổi cách nhìn nhận về cuộc sống và những thử thách trong công việc và cuộc sống. Tôi học được cách tạo ra một tâm lý tích cực và suy nghĩ đúng đắn để vượt qua những khó khăn và đạt được thành công. Tôi cũng học được cách để đối mặt với những tình huống căng thẳng và giữ vững bình tĩnh. Cuốn sách này đã thật sự là một cẩm nang tuyệt vời giúp tôi thay đổi suy nghĩ và cải thiện chất lượng cuộc sống của mình.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Tôi đã học tập như thế nào?
+
Tôi đã học tập như thế nào? M. Go – rơ – ki (Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kính và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.) Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần “buông chùng”. Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu “thằng tù khổ sai”. Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi. (Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò “man rợ”, đáng phải hối hận.) Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn. Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-pho (Crixanfo) đột nhiên tới trường. Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói: “Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!”. Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường. Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang: – Con lên mấy? Có thể thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không? Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi: – Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào? Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi: – Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy. Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói: – Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi. – Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vit (David) hả? Ta chú ý nghe đây. Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, các câu hỏi của Đức Giám hỏi nhanh: – Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không? Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói: – Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây! Giám mục đặt tay lên đầu tôi – bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi: – Tại sao con nghịch ngợm? – Con chán học lắm. – Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác. Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết: – Pe-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con? Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời: – Đúng ạ. – Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không? Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên: – Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ! Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp – ngay cả thầy giáo và cha đạo – cũng phải bật cười: Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ? Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói: – Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi! Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước: – Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt. Tất cả lớp đều thét lên: – Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới. Giám mục gật gật cái mũ cao, nói: – Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con! Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo: – Cho các trò về đi! Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói: – Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé. Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối. Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi: – Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên. [...] Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách – tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra – mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo. [...] Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn. Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngót ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài. Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng. Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quảng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy. [...] Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng. Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ. Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống. Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...] 1918 (In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 – 363)
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận