Soạn bài Hịch tướng sĩ SGK Ngữ văn 8 tập 1 Cánh diều - chi tiếtĐọc trước văn bản Hịch tướng sĩ. Xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử khi bài hịch ra đời và ghi chép lại những thông tin về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giúp cho việc đọc hiểu văn bản này. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Chuẩn bị 1 Câu 1 (trang 110, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Xác định được luận đề, luận điểm; phân biệt được lí lẽ và bằng chứng khách quan với ý kiến, đánh giá chủ quan của người viết. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Luận điểm: + Nêu tên những trung thần nghĩa sĩ được sử sách lưu danh + Tình hình đất nước hiện tại và nỗi lòng của người chủ tướng + Phê phán những biểu hiện sai trái trong hàng ngũ quân sĩ - Luận cứ: + Các gương trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ: Kỉ Tín, Do Vũ, Dự Nhượng, Kính Đức, Mông Kha, Cốt Đãi Ngột Lang... + Làm nổi bật tinh thần quên mình vì chủ, vì vua, vì nước. + Tội ác và sự ngang ngược của giặc: Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng… “Bạo ngược, tham lam, vô đạo.” + Nỗi lòng chủ tướng: Được thể hiện rõ nét qua phần điệp với những câu văn biền ngắn gọn đối xứng cân chỉnh: “Ta thường tới bữa quên ăn…ta cũng cam lòng”
Xem thêm
Cách 2
Xem thêm
Cách 2
Chuẩn bị 2 Câu 2 (trang 110, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng; chú ý yếu tố biểu cảm được bộc lộ chủ yếu qua ngôn từ, giọng điệu lập luận, cách thể hiện quan điểm, tình cảm, thái độ của tác giả nhằm thuyết phục người đọc. Phương pháp giải: Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng Lời giải chi tiết: - Lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, giàu hình ảnh, có sức thuyết phục cao - Kết hợp hài hòa giữa lí trí và tình cảm - Lời văn giàu hình ảnh nhạc điệu Đọc hiểu 1 Câu 1 (trang 111, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Nội dung chính của phần (2) là gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: Cách 1 Nội dung chính của phần 2: tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Nội dung chính của phần (2): thể hiện tinh thần căm hận, uất ức thông qua nói về tội ác của giặc ngoại xâm. Vạch trần tội ác của giặc và lòng căm thù của vị chủ tướng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Đọc hiểu 2 Câu 2 (trang 112, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những thái độ, hành động nào bị tác giả phê phán? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: Cách 1 - Phê phán hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước. - Ham thú vui tầm thường: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, rượu ngon...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước, ham thú vui tầm thường Những thái độ, hành động bị tác giả phê phán: nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến nguy sử mà không biết căm,… Ham thú vui tầm thường: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, rượu ngon... - Thái độ bàng quan trước vận mệnh của đất nước: nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn; làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm. - Ăn chơi, hưởng lạc: lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Đọc hiểu 3 Câu 3 (trang 112, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Việc nêu lên hậu quả nhằm mục đích gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 Việc nêu lên hậu quả nhằm mục đích muốn các tướng sĩ quyết tâm tiêu diệt giặc, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Việc nêu lên hậu quả nhằm mục đích tác động trực tiếp đến các tướng sĩ, khơi dậy lại ý chí chiến đấu, quyết tâm tiêu diệt giặc thù. Thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm của binh sĩ, để họ tự nhìn nhận lại bản thân từ đó thay đổi suy nghĩ và hành động của mình.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Đọc hiểu 4 Câu 4 (trang 113, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những vấn đề nào được nêu lên ở đoạn cuối phần (3)? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: Cách 1 Ở đoạn cuối phần 3, tác giả tập trung vào vấn đề nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Đồng thời khích lệ binh sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, nhưng mục đích cao nhất chính là kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Vấn đề nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. - Khích lệ binh sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược - Kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm. Những vấn đề được nêu ở đoạn cuối phần (3): đưa ra lời khuyên, khích lệ tinh thần binh lính, khơi gợi những điều tốt đẹp trong tương lai nếu như họ có quyết tâm cao, tinh thần yêu nước vững bền thì tất yếu ngày dành được chiến thắng, hạ quân giặc sẽ không xa. Khuyên răn họ nêu cao tinh thần cảnh giác, thuyết phục họ rèn luyện, học tập theo “Binh thư yếu lược” để củng cố sức mạnh quân đội.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Đọc hiểu 5 Câu 5 (trang 113, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Câu hỏi “Vì sao vậy?” nhằm giải thích cho điều gì? Phương pháp giải: Trả lời theo ý hiểu Lời giải chi tiết: Cách 1 Câu hỏi "Vì sao vậy?" nhằm mở đầu cho việc Trần Quốc Tuấn giải thích lí do việc phải làm ở đoạn văn đầu tiên của phần 4, cụ thể hơn là cho câu: "Nếu các ngươi....nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù."
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Nhằm mở đầu cho việc Trần Quốc Tuấn giải thích lí do việc phải làm ở đoạn văn đầu tiên của phần 4. Câu hỏi “Vì sao vậy” nhằm lí giải cho những việc Trần Quốc Tuấn giải thích cho câu văn ở đầu đoạn (4): “Nếu các ngươi....nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù” Câu hỏi nhằm giải thích, gợi mở cho nội dung ở phần cuối.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 1 Câu 1 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Xác định mục đích và đối tượng thuyết phục của bài Hịch tướng sĩ. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 Mục đích: phê phán tinh thần mất cảnh giác của tướng sĩ đồng thời khích lệ tinh thần chiến đấu của họ. Đối tượng thuyết phục của bài Hịch tướng sĩ là các tướng sĩ.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Mục đích của bài Hịch tướng sĩ: khích lệ tinh thần, khơi dậy lòng căm thù giặc của binh sĩ, giúp binh sĩ hiểu được tâm tư của Trần Quốc Tuấn và thuyết phục binh sĩ chuyên tâm học hỏi, tập luyện theo cuốn Binh thư yếu lược. - Đối tượng thuyết phục: binh sĩ. - Mục đích: Khơi gợi lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm chống giặc cứu nước của binh sĩ, thuyết phục họ chuyên tâm rèn luyện Binh thư yếu lược. - Đối tượng: Binh sĩ - Mục đích: khơi gợi lòng căm thù giặc, quyết tâm cứu nước và thuyết phục học tập Binh thư yếu lược - Đối tượng: binh sĩ
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 2 Câu 2 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Trình bày bố cục của bài hịch, cho biết luận điểm của từng phần và mối quan hệ của mỗi phần với mục đích của bài hịch. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Bài hịch bố cục thành 4 phần: + Phần 1 (từ đầu đến "còn lưu tiếng tốt"): Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước. + Phần 2 (từ "Huống chi" đến "cũng vui lòng"): Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc. + Phần 3 (từ "Các ngươi" đến "không muốn vui vẻ phỏng có được không?"): Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai trong lối sống, trong hành động của các tướng sĩ. + Phần 4 (đoạn còn lại): Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lộ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ. - Giữa các luận điểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung là khích lệ tướng sĩ hăng say tập luyện, chống giặc ngoại xâm.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Bố cục của bài hịch: + Phần 1 (từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”): Nêu gương những trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước. Qua đó, thể hiện mong muốn của tác giả nhắc nhở binh lính, gợi ra ý thức trách nhiệm của họ trong thời loạn lạc. + Phần 2 (từ “Huống chi” đến “cũng vui lòng”): Tố cáo tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc. Từ đó, dễ dàng khơi gợi được lòng căm thù giặc. + Phần 3 (từ “Các ngươi” đến “không muốn vui vẻ phỏng có được không?”): Phân tích thái độ, hành động của các tướng sĩ. Từ đó, giúp họ nhìn nhận rõ ràng nhất cục diện của đất nước đang diễn ra, để họ biết những sai lầm và điều họ cần thay đổi.
+ Phần 4 (đoạn còn lại): Đưa ra các nhiệm vụ cụ thể, đồng thời khích lộ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ. - Các luận điểm từng phần có mối quan hệ chặt chẽ, rõ ràng, làm sáng tỏ mục đích đưa ra giúp bài hịch đầy sức thuyết phục. - Bài hịch bố cục thành 4 đoạn.
- Vai trò của từng phần:
- Bài hịch bố cục thành 4 đoạn.
- Vai trò của từng phần:
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 3 Câu 3 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hãy chỉ ra cách thuyết phục của tác giả qua bài hịch (Gợi ý: Vì sao tác giả mở đầu bài hịch bằng cách nêu lên những tấm gương trung thần nghĩa sĩ? Vì sao tác giả bày tỏ tình cảm với các tướng sĩ và phê phán nghiêm khắc những suy nghĩ, việc làm sai trái của họ? Lời khuyên nhủ của tác giả dựa trên cơ sở nào?...) Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Tác giả muốn những binh lính, tướng sĩ thấy được những tấm gương trung thần nghĩa sĩ để noi theo những tấm gương đó. Khơi gợi tinh thần yêu nước, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ. - Các tấm gương đó đều có điểm chung là những vị anh hùng, hào kiệt, yêu nước và rất trung thành với chủ tướng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Cách thuyết phục của tác giả qua bài hịch: + Trong phần mở đầu của bài, tác giả nêu lên những tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong Bắc sử với mục đích nhằm ca ngợi các trung thần nghĩa sĩ đã lưu danh sử sách, để lại tiếng thơm muôn đời, đồng thời giáo dục lòng trung quân ái quốc của các tướng sĩ. + Tác giả bày tỏ tình cảm với các tướng sĩ và phê phán nghiêm khắc những suy nghĩ, việc làm sai trái của họ với mong muốn tác động trực tiếp đến tinh thần, ý chí quyết tâm chống lại quân giặc, cần có trách nhiệm bảo vệ đất nước trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc. + Lời khuyên của tác giả ông đưa ra phương hướng cụ thể, đúng đắn, những việc nên và cần làm cho tướng sĩ của mình: khuyên bảo họ cần “đặt mồi lửa” – biết lo xa, cần đề cao tinh thần cảnh giác và huấn luyện quân sĩ, tăng cường tập luyện võ nghệ, học tập binh thư yếu lược. Cách thuyết phục của tác giả:
Cách thuyết phục của tác giả:
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 4 Câu 4 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Văn nghị luận không chỉ thuyết phục bằng lí lẽ mà còn bằng cả tình cảm, cảm xúc. Hãy dẫn ra một số câu văn trong bài hịch nêu lí lẽ và một số câu văn bộc lộ nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Những câu văn trong bài hịch thể hiện tấm lòng của người chủ tướng: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng."
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Một số câu văn trong bài hịch nêu lí lẽ và một số câu văn bộc lộ nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn: + Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong ra ngựa, ta cũng vui lòng. + Giặc với ta là kẻ thù không đợi trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Ta viết ra bài hịch này để các người biết bụng ta. - Một số câu văn nêu lí lẽ:
… - Một số câu văn bộc lộ nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn:
- Một số câu văn nêu lí lẽ:
- Một số câu văn bộc lộ nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn:
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 5 Câu 5 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Nêu khái quát các giá trị về nội dung và nghệ thuật của bài hịch. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Giá trị nội dung: Bài hịch là lời phản ánh chân thực nhất tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam ta trong suốt quá trình tham gia kháng chiến chống quân xâm lược. Qua đó, thể hiện lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm đánh đổ kẻ thù. - Giá trị nghệ thuật: Bài hịch là một áng văn chính luận xuất sắc với cách đưa ra luận điểm, luận cứ chặt chẽ, rõ ràng, giàu hình ảnh, đầy sức thuyết phục.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
- Giá trị nội dung: Bài hịch là lời phản ánh chân thực nhất tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam ta trong suốt quá trình tham gia kháng chiến chống quân xâm lược. Qua đó, thể hiện lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm đánh đổ kẻ thù. - Giá trị nghệ thuật: Bài hịch là một áng văn chính luận xuất sắc với cách đưa ra luận điểm, luận cứ chặt chẽ, rõ ràng, giàu hình ảnh, đầy sức thuyết phục. - Nội dung: phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Điều đó được thể hiện qua lòng căm thù giặc, ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược. - Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, giàu hình ảnh, có sức thuyết phục cao, lời văn giàu tính nhạc điệu... - Nội dung: phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. - Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, giàu hình ảnh, có sức thuyết phục cao, lời văn giàu tính nhạc điệu...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
CH cuối bài 6 Câu 6 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Ngày nay, loại văn bản nào có mục đích và nội dung tương tự hịch? Theo em, khi nào thì người ta viết loại văn bản như thế? Phương pháp giải: Đọc văn bản và nêu ý nghĩa Lời giải chi tiết: - Ngày nay, loại văn bản có mục đích và nội dung tương tự hịch: “Lời kêt gọi toàn quốc kháng chiến” – Chủ tịch Hồ Chí Minh,… - Theo em, khi người ta có mục đích muốn truyền tải rộng rãi tới người đọc thì họ viết loại văn bản như thế.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Ngày nay, loại văn bản có mục đích và nội dung tương tự hịch là lời kêu gọi. Các văn bản được viết khi cần kêu gọi nhân dân cùng hành động, thường sử dụng khi có chiến tranh, hay sự kiện lịch sử nào đó,... Loại văn bản: lời kêu gọi Hoàn cảnh: hường sử dụng khi có chiến tranh, hay sự kiện lịch sử nào đó,...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
CH cuối bài 7 Câu 7 (trang 115, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Từ bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, em học được gì về cách viết bài văn nghị luận nhằm thuyết phục người khác? Phương pháp giải: Từ bài hịch rút ra kinh nghiệm viết văn cho bản thân Lời giải chi tiết: Cách 1 Từ văn bản, em thấy rằng lập luận, lí lẽ và dẫn chứng là các yếu tố vô cùng quan trọng trong việc viết bài văn nghị luận nhằm thuyết phục người khác. Lập luận, lí lẽ cần mạch lạc rõ ràng, dẫn chứng phải tiêu biểu thì văn bản mới có sức thuyết phục.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Từ bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, em học được cách đưa ra dẫn chứng phù hợp, luận điểm, luận cứ rõ ràng, mang tính xác thực khi viết bài văn nghị luận nhằm thuyết phục người khác. - Mục đích của bài văn nghị luận cần rõ ràng, xác định được đối tượng hướng đến. - Xác định luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng chính xác, có tính hệ thống. - Lựa chọn phương pháp lập luận phù hợp, ngôn ngữ và giọng điệu phải giàu tính thuyết phục. - Mục đích cần rõ ràng, xác định được đối tượng đọc - Xác định luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng chính xác, có tính hệ thống. - Lựa chọn phương pháp lập luận phù hợp
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)
+
HỊCH TƯỚNG SĨ (Dự chư tì tướng hịch văn – Trần Quốc Tuấn) Ta thường nghe: Ký Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng trai tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được! Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây. Vương Công Kiên là người thế nào, tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào, mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào, tì tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt! Huống chi ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau! Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thi ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì. Nay các người nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoe khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không? Nay ta bảo thật các ngươi nên nhớ câu: “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mã vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không? Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù. Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Ta viết ra bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận