Soạn bài Người thầy đầu tiên SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết

Đọc trước đoạn trích Người thầy đầu tiên; tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Trin-ghi-dơ Ai-ma-tốp (Chyngyz Aitmatov).

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Người thầy đầu tiên ca ngợi người thầy Đuy-sen với những tâm huyết, sự tận tụy và tình cảm mà thầy dành cho học sinh của mình, đặc biệt là An-tư-nai. Người thầy Đuy-sen đã thay đổi cuộc đời của cô bé An-tư-nai, người đã vun trồng ước mơ, hy vọng cho những học trò nhỏ.

Chuẩn bị

(trang 20, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Đọc trước đoạn trích Người thầy đầu tiên; tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Trin-ghi-dơ Ai-ma-tốp (Chyngyz Aitmatov).

Phương pháp giải:

Đọc đoạn trích và tìm hiểu thêm thông tin về tác giả

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Chingiz Aitmatov (1928-2008) là một nhà văn, nhà văn học và chính trị gia người Kyrgyzstan. Ông được biết đến là một trong những nhà văn hàng đầu của Kyrgyzstan và đã viết nhiều tác phẩm văn học có ảnh hưởng lớn tới văn hóa và xã hội Kyrgyzstan và nhiều nước khác trên thế giới.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Ai-ma-tốp (1928 – 2008) là nhà văn Cư-rơ-gư-xtan, một nước cộng hoà ờ vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây.

- Hoạt động văn học của Ai-ma-tốp bắt đầu từ năm 1952, khi ông là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp Cư-rơ-gư- xtan. Từ năm 1956 đến năm 1958 ông học Trường viết văn M. Goóc-ki ở Mát- xcơ-va. Sau khi tốt nghiệp (1959), Ai-ma-tốp làm phóng viên báo Sự thật thường trú tại Cư-rơ-gư-xtan.

- Tác phẩm đầu tiên khiến Ai-ma-tốp nổi tiếng là tập truyện Núi đồi và thảo nguyên (được tặng giải thưởng Lê-nin về văn học năm 1963).

- Đề tài chủ yếu trong các truyện ngắn của Ai-ma-tốp là cuộc sống khắc nghiệt nhưng cũng đầy chất lãng mạn của người dân vùng đồi núi Cư-rơ-gư-xtan, tình yêu, tình bạn, tinh thần dũng cảm vượt qua những thử thách hi sinh thời chiến tranh, thái độ tích cực đấu tranh của tầng lớp thanh niên, trước hết là nữ thanh niên để thoát khỏi sự ràng buộc của những tập tục lạc hậu.

- Tác giả: Chingiz Aitmatov (1928-2008) là một nhà văn, nhà văn học và chính trị gia người Kyrgyzstan.

- Ông được biết đến là một trong những nhà văn hàng đầu của Kyrgyzstan và đã viết nhiều tác phẩm văn học có ảnh hưởng lớn tới văn hóa và xã hội Kyrgyzstan và nhiều nước khác trên thế giới.

Ai-ma-tốp (1928 – 2008) là một nhà văn Cư-rơ-gư-xtan, một quốc gia cộng hòa nằm ở vùng Trung Á, trước đây thuộc Liên Xô.

Sự nghiệp văn học của Ai-ma-tốp khởi đầu từ năm 1952, khi ông là sinh viên tại Trường Đại học Nông nghiệp Cư-rơ-gư-xtan. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông học viết văn tại Trường M. Goóc-ki ở Mát- xcơ-va. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1959, Ai-ma-tốp làm phóng viên cho báo Sự thật, cơ quan truyền thông cố định tại Cư-rơ-gư-xtan.

Tác phẩm đầu tiên đưa Ai-ma-tốp vào tầm ánh sáng là tập truyện ngắn có tựa đề "Núi đồi và thảo nguyên," đã được vinh danh bằng giải thưởng về văn học Lê-nin vào năm 1963.

Các truyện ngắn của Ai-ma-tốp thường xoay quanh cuộc sống khắc nghiệt nhưng đầy lãng mạn của nhân dân vùng đồi núi Cư-rơ-gư-xtan. Các tác phẩm của ông thường nói về tình yêu, tình bạn, và tinh thần dũng cảm trong việc vượt qua những khó khăn và hy sinh trong thời chiến tranh. Ông cũng thường thể hiện sự tích cực và quyết tâm đấu tranh của tầng lớp thanh niên, đặc biệt là nữ thanh niên, để thoát khỏi những tập tục lạc hậu và ràng buộc xã hội.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 1

Câu 1 (trang 21, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nguyên nhân nào khiến nhân vật “tôi” “lặng người đi vì kinh hãi”?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản ứng với câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nguyên nhân khiến nhân vật "tôi" "lặng người đi vì kinh hãi" là vì cô bé nhận ra điều mà thím cô muốn làm với cô.

Nguyên nhân khiến nhân vật "tôi" "lặng người đi vì kinh hãi" là vì cô bé nhận ra điều mà thím cô muốn làm với cô.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Vì cô bé nhận ra điều mà thím cô muốn làm với cô.

Nhân vật “tôi” “lặng người đi vì kinh hãi” khi hiểu điều thím định làm với mình.

Bởi cô bé nhận ra mục đích mà thím cô đang có ý định thực hiện đối với cô.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 2

Câu 2 (trang 21, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Ý nghĩa của việc trồng hai cây phong là gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản ứng với câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Hai cây phong được gửi gắm biết bao ước mơ và hi vọng về một thế hệ trẻ, thế hệ mới sẽ làm đổi thay cho làng Ku-ku-rêu. Hai cây phong chính là hiện thân xúc động cho khoảng trời ấu thơ nghĩa tình, là nơi lưu giữ những kỉ niệm của bao thế hệ học trò làng Ku-ku-rêu bé nhỏ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Là hiện thân xúc động cho khoảng trời ấu thơ nghĩa tình

- Là nơi lưu giữ những kỉ niệm của bao thế hệ học trò làng Ku-ku-rêu bé nhỏ.

-  Gửi gắm ước mơ và hi vọng về một thế hệ mới có thể làm cho làng Ku-ku-rêu thay đổi theo hướng tích cực.

- Hai cây phong chính là khoảng trời thơ ấu là nơi chôn giấu những kỉ niệm của biết bao thế hệ học trò của làng Ku-ku-rêu.

Tiếp thêm sức mạnh cho An-tư-nai.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 3

Câu 3 (trang 24, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Tình cảnh của An-tư-nai sau khi bị bắt như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản ứng với câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Sau khi bị bắt, An-tư-nai tỉnh lại vào ban đêm trong một cái lều vải. Bên cạnh túp lều là dòng suối, trong không gian vẫn còn văng vẳng tiếng nói chuyện của những người chăn cừu và đối diện cô là một bà lão đang ngồi yên.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Tình cảnh: tỉnh lại vào ban đêm trong một cái lều vải cạnh dòng suối, văng vẳng tiếng nói chuyện của những người chăn cừu và đối diện cô là một bà lão đang ngồi yên.

An-tư-nai tỉnh lại vào ban đêm trong một cái lều vải.

Trong đêm tối, An-tư-nai tỉnh dậy sau khi bị bắt và phát hiện mình nằm trong một túp lều vải. Gần đó, có một dòng suối, và trong không gian vẫn còn tiếng nói của những người chăn cừu đang trò chuyện. Cô nhìn thấy một bà lão đang ngồi yên trước mặt mình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 4

Câu 4 (trang 24, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Điều gì bất ngờ đã xảy ra?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản ứng với câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Điều bất ngờ đã xảy ra là việc thầy giáo Đuy-sen xuất hiện cùng hai viên cảnh sát.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Thầy giáo Đuy-sen xuất hiện cùng hai viên cảnh sát.

Thầy Đuy-sen và công an đến cứu An-tư-nai.

Một điều không thể ngờ đã xảy ra khi thầy giáo Đuy-sen xuất hiện đồng hành với hai viên cảnh sát.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 5

Câu 5 (trang 25, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Những lời nhân vật “tôi” thì thầm có ý nghĩa gì?

Phương pháp giải:

Trả lời theo ý hiểu

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật "tôi" muốn nghe theo lời thầy Đuy-sen, muốn quên hết đi những tủi nhục mà mình phải chịu trong mấy ngày bị bắt. Cô muốn trở nên trong sạch, muốn bắt đầu lại một cuộc đời.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Ý nghĩa: khiến An-tư-nai có động lực muốn trở nên trong sạch, muốn bắt đầu lại một cuộc đời.

Nhân vật “tôi” muốn quên hết những tủi nhục phải chịu trong những ngày bị bắt, bắt đầu một cuộc đời mới.

Nhân vật "tôi" mong muốn tuân theo hướng dẫn của thầy Đuy-sen và hy vọng có thể xóa bỏ mọi tủi nhục trải qua trong những ngày bị bắt. Cô mong muốn tái khởi đầu một cuộc sống trong sạch hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Đọc hiểu 7

Câu 7 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Phần (3) là những lời tâm sự của An-tư-nai vào thời điểm nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Phần 3 là những lời tâm sự của An-tư-nai vào thời điểm cô đã lớn, đã trưởng thành

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Thời điểm cô đã lớn, đã trưởng thành.

Phần 3 là những lời tâm sự của An-tư-nai khi đã trưởng thành.

Phần 3 của tác phẩm là sự thổ lộ của An-tư-nai khi cô đã trưởng thành và trưởng thành hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 1

Câu 1 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Đoạn trích Người thầy đầu tiên kể về chuyện gì? Truyện được kể ở ngôi thứ mấy? Ngôi kể ấy có tác dụng như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Văn bản Người thầy đầu tiên kể về thầy giáo Đuy-sen hết lòng vì học trò và cô học trò An-tư-nai thông minh lanh lợi. Qua đó người đọc thấy được tình cảm thầy trò cao quý và thiêng liêng.

Truyện được kể ở ngôi kể thứ nhất làm cho người đọc nắm bắt tâm trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, chân thật và gần gũi hơn. => Bộc bạch trực tiếp, chân thực cảm xúc nhân vật.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Kể về thầy giáo Đuy-sen hết lòng vì học trò và cô học trò An-tư-nai thông minh lanh lợi.

- Ngôi kể thứ nhất => Bộc bạch trực tiếp, chân thực cảm xúc nhân vật.

– Đoạn trích Người thầy đầu tiên kể về kí ức đau buồn của An-tư-nai khi còn ở ngôi làng Ku-ku-rêu hẻo lánh: bị người thân bán làm vợ lẽ cho một kẻ giàu có.

– Truyện được kể ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện chính là nhân vật An-tư-nai.

– Ngôi kể thứ nhất khiến câu chuyện được kể lại chân thật, sinh động và giàu cảm xúc khi biểu cảm trực tiếp, thể hiện cảm xúc chân thực trước những sự việc mà nhân vật tham gia...

- Đoạn trích Người thầy đầu tiên kể về kí ức đau buồn của An-tư-nai khi còn ở ngôi làng Ku-ku-rêu hẻo lánh, bị người thím bán làm vợ lẽ cho một kẻ giàu có.

- Truyện được kể theo ngôi thứ nhất (người kể chuyện xưng “tôi” chính là An-tư-nai).

- Ngôi kể ấy có tác dụng góp phần làm cho truyện thêm sinh động, hấp dẫn và thể hiện cảm xúc chân thực của nhân vật đã trải qua.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 2

Câu 2 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Tóm tắt nội dung chính của từng phần được đánh số trong văn bản. Nội dung phần (3) cho biết sự khác biệt gì về thời gian kể chuyện so với hai phần trước? Câu văn nào nói lên điều đó?

Phương pháp giải:

Đọc và tóm tắt nội dung chính

Lời giải chi tiết:

- Tóm tắt nội dung chính của từng phần:

+ Phần 1: An-tư-nai được thầy Đuy-sen giúp đỡ, cho ở cùng mình ở nhà bác Ka-tai-bai để tránh người thím độc ác muốn gả cô đi. Suốt đêm đó, An-tư-nai cứ bồn chồn, lo lắng không sao ngủ được. Để giúp cô thoát khỏi những suy nghĩ đen tối, thầy Đuy-sen đã đưa cô đi trồng hai cây và gieo trong cô những hi vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn.

+ Phần 2: Thím của An-tư-mai dẫn người đến trường học, muốn cướp cô đi. Thầy Đuy-sen đã chống trả lại bọn người kia và bị đánh trọng thương, An-tư-mai thì bị bắt đi. Cô bé tìm cách trốn đi và thầy Đuy-sen đã xuất hiện cùng hai viên cảnh sát. An-tư-nai được cứu ra. Thầy Đuy-sen lại một lần nữa khuyên bảo cô quên đi những ngày đen tối, xây dựng cho An-tư-nai hi vọng mới. Dưới làn nước suối, An-tư-mai muốn gột sạch bản thân, một lần nữa tràn đầy hi vọng vào cuộc sống.

+ Phần 3: Những suy nghĩ, tình cảm, lòng biết ơn của An-tư-mai đối với thầy Đuy-sen.

- Nội dung phần 3 cho biết sự khác biệt về thời gian so với các phần khác: thời gian trong phần 3 là tương lai rất xa so với thời điểm sự việc ở phần 1 và phần 2 xảy ra. Thời gian trong nội dung phần 3 là thời gian An-tư-nai đã trưởng thành.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Tóm tắt nội dung chính của từng phần:

+ Phần 1: An-tư-nai được thầy Đuy-sen giúp đỡ, cho ở cùng mình ở nhà bác Ka-tai-bai để tránh người thím độc ác muốn gả cô đi.

+ Phần 2: Thím của An-tư-mai dẫn người đến trường học, muốn cướp cô đi. Thầy Đuy-sen đã chống trả lại bọn người kia và bị đánh trọng thương, An-tư-mai thì bị bắt đi.

+ Phần 3: Những suy nghĩ, tình cảm, lòng biết ơn của An-tư-mai đối với thầy Đuy-sen.

- Thời gian trong phần 3 là tương lai rất xa so với thời điểm sự việc ở phần 1 và 2 xảy ra.

– Tóm tắt nội dung chính của từng phần được đánh số trong văn bản:

+ Phần (1): Thầy Đuy-sen hứa sẽ bảo vệ An-tư-nai trước âm mưu của người thím, động viên cô lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng khi cùng cô trồng hai cây phong.

+ Phần (2): Biến cố đau buồn vẫn xảy ra với An-tư-nai và thầy Đuy-sen đã trải qua nhiều khó khăn, vất vả để giải thoát cho cô.

+ Phần (3): Những suy nghĩ của An-tư-nai về con đường mòn mà thầy Đuy-sen đã đưa cô đi hôm ấy.

– Nội dung phần (3) là những suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai ở hiện tại nên có sự khác biệt về thời gian kể chuyện so với hai phần trước – vốn là hồi ức của nhân vật. Câu văn nói lên điều đó: “Giá giờ đây tôi có thể tìm lại con đường mòn mà thầy Đuy-sen đã đưa tôi xuống núi, tôi sẽ phục xuống đất và hôn lên những vết chân của thầy tôi.”, “Thiêng liêng và diễm phúc thay ngày hôm ấy, con đường mòn ấy, con đường đã dẫn tôi trở về với cuộc sống, với niềm tin mới vào bản thân mình, với những niềm hi vọng mới, với ánh sáng.... Cảm ơn ánh sáng Mặt Trời, cảm ơn mảnh đất ngày hôm ấy...”.

- Phần 1: thầy Đuy-sen hứa sẽ bảo vệ An-tư-nai trước âm mưu của người thím, động viên cô lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng khi cùng cô trồng hai cây phong.

- Phần 2: biến cố đau buồn vẫn xảy ra với An-tư-nai và thầy Đuy-sen trải qua nhiều khó khăn, vất vả để giải thoát cho cô.

- Phần 3: những suy nghĩ của An-tư-nai về con đường mòn mà thầy Đuy-sen đi qua.

=> Nội dung của phần 3 là suy nghĩ ở hiện tại nền có sự khác biệt về thời gian kể chuyện ở hai phần trước (hồi ức).

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 3

Câu 3 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Hãy dẫn ra một số câu văn thể hiện suy nghĩ, tình cảm và mong ước của thầy Đuy-sen khi trồng hai cây phong nhỏ.

Phương pháp giải:

Đọc và chỉ ra các câu văn thể hiện suy nghĩ, tình cảm và mong ước của thầy Đuy-sen khi trồng hai cây phong nhỏ.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Một số câu văn thể hiện suy nghĩ, tình cảm và mong ước của thầy Đuy-sen khi trồng hai cây phong nhỏ:

"Rồi em sẽ thấy hai cây phong của chúng ta đẹp đến nhường nào! Chúng nó sẽ đứng trên ngọn đồi này, sát cánh nhau như hai anh em. Và mọi người sẽ luôn luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng. Đến khi ấy cả cuộc sống cũng sẽ khác, An-tư-nai ạ. Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn ở phía trước..."

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

– Khơi gợi niềm lạc quan: “Và mọi người sẽ luôn luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng.”.

– Mong ước về tương lai tươi sáng: “Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn ở phía trước...”.

– Thể hiện tình thương yêu sâu sắc, niềm tin mãnh liệt dành cho học trò: “Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em cũng sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt. Em có một tâm hồn đẹp và một đầu óc ham học. Thầy bao giờ cũng nghĩ rằng em sẽ trở thành người thông thái. Thầy tin như vậy, em ạ, số phận em nhất định sẽ như thế. Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này. An-tư-nai ạ, ta sẽ tự tay trồng lấy hai cây phong này. Và mong sao em sẽ tìm thấy hạnh phúc trong học tập, ngôi sao nhỏ trong sáng của thầy ạ...”.

- Khơi gợi niềm lạc quan: “Và mọi người sẽ luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng”

- Mong ước về tương lai tươi sáng: “Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn phía trước…”

- Thể hiện tình yêu thương sâu sắc và niềm tin mãnh liệt cho học trò: “Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em cũng sẽ trưởng thành…”

Tình cảm, suy nghĩ và mong ước của thầy Đuy-sen khi trồng hai cây phong nhỏ được thể hiện qua một số câu văn sau: 

"Rồi em sẽ thấy hai cây phong của chúng ta đẹp đến nhường nào! Chúng nó sẽ đứng trên ngọn đồi này, sát cánh nhau như hai anh em. Và mọi người sẽ luôn luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng. Đến khi ấy cả cuộc sống cũng sẽ khác, An-tư-nai ạ. Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn ở phía trước..."

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 4

Câu 4 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Phân tích nhân vật thầy Đuy-sen trong đoạn trích Người thầy đầu tiên.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản và phân tích nhân vật thầy Đuy-sen

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Hình ảnh một người thầy tuyệt đẹp và đáng kính là cảm nhận sâu sắc nhất của mỗi chúng ta khi đọc truyện ngắn này. Khi đến vùng núi quê hương của cô bé An-tư-nai. Thầy Đuy-sen còn trẻ lắm. Học vấn của thầy lúc đó chưa cao, nhưng trái tim thầy dạt dào tình nhân ái và sôi sục nhiệt tình cách mạng. Một mình thầy lao động hằng tháng trời, phạt cỏ, trát lại vách, sửa cánh cửa, quét dọn cái sân..., biến cái chuồng ngựa của phú nông hoang phế đã lâu ngày thành một cái trường khiêm tốn nằm bên hẻm núi, cạnh con đường vào cái làng nhỏ của người Kir-ghi-di, vùng Trung Á nghèo nàn lạc hậu

Khi An-tư-nai và các bạn nhỏ đến thăm trường với bao tò mò “xem thử thầy giáo đang làm gì, ở đấy cũng hay” thì thấy thầy “từ trong cửa bước ra, người bê bết đất”. Thầy Đuy-sen “mỉm cười, niềm nở” quệt mồ hôi trên mặt, rồi ôn tồn hỏi: “Đi đâu về thế, các em gái”. Trước các “vị khách” nhỏ tuổi, thầy hiền hậu nói: “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi...?”

Đuy-sen đúng là một người thầy vĩ đại, cử chỉ của thầy rất hồn nhiên. Thầy hiền hậu nói lên những lời ấm áp lay động tâm hồn tuổi thơ. Mới gặp các em nhỏ xa lạ lần đầu mà thầy đã nhìn thấy, đã thấu rõ cái khao khát muốn được học hành của các em: “các em chả sẽ học tập ở đây là gì?” Thầy “khoe” với các em về chuyện đắp lò sưởi trong mùa đông..., thầy báo tin vui trường học đã làm xong “có thể bắt đầu học được rồi”. Thầy mời chào hay khích lệ? Thầy nói với các em nhỏ người dân tộc miền núi chưa từng biết mái trường là gì bằng tất cả tình thương mênh mông: “Thế nào, các em có thích học không? Các em sẽ đi học chứ?”

Thầy Đuy-sen quả là có tài, giàu kinh nghiệm sư phạm. Chỉ sau một vài phút gặp gỡ, vài câu nói nhẹ nhàng, thầy đã chiếm lĩnh tâm hồn tuổi thơ. Thầy đã khơi dậy trong lòng các em nhỏ người miền núi niềm khao khát được đi học.

Với An-tư-nai, thầy nhìn thấu tâm can em, cảm thông cảnh ngộ mồ côi của em, thầy an ủi và khen em một cách chân tình: “An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?”. Câu nói ấy cùng với nụ cười hiền hậu của Đuy-sen đã khiến cho cô gái dân tộc thiểu số bé nhỏ, bất hạnh “thấy lòng ấm hẳn lại”.

Đuy-sen là người thầy đầu tiên, người thầy khai tâm khai sáng cho An-tư- nai. Thầy hiền hậu, thầy yêu thương tuổi thơ. Thầy đã đốt cháy lên trong lòng các em ngọn lửa nhiệt tình khát vọng và khát vọng đi học. Đuy-sen là hình ảnh tuyệt đẹp của một ông thầy tuổi thơ. Con đường tuổi trẻ là con đường học hành. Trên con đường đầy nắng đẹp ấy, anh chị và mỗi chúng ta sẽ được dìu dắt qua nhiều thầy, cô giáo. Cũng như An-tư-nai, trong tâm hồn mỗi chúng ta luôn luôn chói ngời những người thầy, những Đuy-sen cao đẹp.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Hình ảnh một người thầy tuyệt đẹp và đáng kính là cảm nhận sâu sắc nhất của mỗi chúng ta khi đọc truyện ngắn này.

- Đuy-sen đúng là một người thầy vĩ đại, cử chỉ của thầy rất hồn nhiên. Thầy hiền hậu nói lên những lời ấm áp lay động tâm hồn tuổi thơ.

- Thầy Đuy-sen quả là có tài, giàu kinh nghiệm sư phạm.

- Đuy-sen là người thầy đầu tiên, người thầy khai tâm khai sáng cho An-tư- nai.

Nhân vật thầy Đuy-sen trong đoạn trích là một người thầy:

– Yêu thương, quan tâm học trò (không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn dạy học trò cách làm người, giúp An-ti-nai tạo lập nhân cách của mình).

– Có trách nhiệm với học trò (ra sức bảo vệ An-tư-nai, dám hi sinh cả tính mạng để mong đem lại cuộc sống mới đầy hi vọng cho học trò của mình).

– Có niềm tin vào tương lai tươi sáng của học trò (tin tưởng mạnh mẽ vào năng lực của An-tư-nai, gieo vào lòng cô bé niềm tin, nghị lực trong cuộc sống).

- Thầy là một con người nhiệt huyết, trách nhiệm với công việc. Nhờ có thầy, một vùng đất hoang tàn thành trường học.

- Thầy đã khơi dậy trong lòng các em nhỏ người miền núi niềm khao khát được đi học, đặc biệt là với An-tư-nai khi cứu cô bé, giúp cô bé được lên tỉnh học,...

- Thầy Đuy-sen còn trở thành tấm gương cho học trò về cách sống lạc quan, tự trọng. Khi bọn nhà giàu ngu xuẩn, bộ mặt láo xược lên mặt chế giễu, cười cợt, thầy vẫn lạc quan kể chuyện vui cho học sinh quên đi mọi sự.

- Thầy Đuy-sen còn là một người giàu lòng yêu thương, luôn thấu hiểu trái tim trẻ thơ. Không chỉ là người trực tiếp giảng dạy, thầy Đuy-sen còn luôn quan tâm đến cuộc sống của học sinh. Mỗi khi đi học, các em học sinh đều phải lội qua một con suối. Đến mùa đông, nước băng lạnh buốt khiến các em không thể lội qua được nữa. Để giúp học sinh có thể đến lớp, thầy Đuy-sen đã bế các em qua suối, lưng thì cõng, tay thì bế để các em nhỏ có thể an toàn tới trường học.

=> Thầy Đuy-sen là người truyền cảm hứng, tấm gương cho những đứa trẻ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 5

Câu 5 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Thông qua cuộc đời nhân vật An-tư-nai, có thể nêu lên nhận xét gì về số phận của những người phụ nữ được nói tới trong câu chuyện?

Phương pháp giải:

Trả lời theo ý hiểu

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Thông qua cuộc đời nhân vật An-tư-nai, có thể thấy số phận của những người phụ nữ được nói tới trong câu chuyện rất bất hạnh. Họ bị buộc phải nghe theo sắp xếp của người lớn mà không thể phản kháng. Họ bị buộc phải kết hôn từ rất sớm.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Số phận của những người phụ nữ được nói tới trong câu chuyện rất bất hạnh.

Thông qua cuộc đời nhân vật An-tư-nai, có thể rút ra một số nhận xét sau về số phận của những người phụ nữ trong câu chuyện:

- Chịu nhiều thiệt thòi.

- Bị đói nghèo, lạc hậu đoạ đày, mất hết quyền làm người.

- …

Số phận của những người phụ nữ: bất hạnh, chịu nhiều thiệt thòi và không có quyền quyết định cuộc sống của bản thân mà phải nghe theo sự sắp xếp của người khác.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

CH cuối bài 6

Câu 6 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Chi tiết hoặc hình ảnh nào trong văn bản đã để lại trong em những ấn tượng sâu đậm? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) ghi lại ấn tượng ấy.

Phương pháp giải:

Viết đoạn văn

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Văn bản “Người thầy đầu tiên” của tác giả Ai-ma-tốp đã để lại cho em nhiều ấn tượng. Chi tiết mà em ấn tượng nhất chính là khi thầy Đuy-sen sẵn sàng đứng ra bảo vệ cho học trò của mình. Điều này không chỉ cho thấy tình cảm chân quý mà thầy dành cho các nữ sinh mà nó còn thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức của thầy. Trước hoàn cảnh xã hội đất nước Cư-rơ-gư-xtan lúc bấy giờ, phụ nữ không được coi trọng và việc để phụ nữ đi học lại càng không. Thầy Đuy-sen đã dũng cảm chống lại những suy nghĩ lạc hậu đó để bảo vệ học trò của mình. Chính sự dũng cảm ấy đã cứu rỗi cả một cuộc đời của cô bé An-tư-nai, nhờ có sự giúp đỡ của thầy mà sau này An-tư-nai đã trở thành một người có ích cho xã hội, khẳng định được vị thế của người phụ nữ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Chi tiết mà em ấn tượng nhất trong đoạn trích Người thầy đầu tiên, là chi tiết về dòng tâm sự của nhân vật An-tư-nai khi đã trưởng thành. Cô bé ngày nào giờ đây đã là một người thành công, nhưng luôn khắc khoải về người thầy giáo đầu tiên của mình. Chi tiết ấy đã giúp chúng ta thấy được sự biết ơn và kính trọng sâu sắc của nhân vật An-tư-nai đối với thầy giáo của mình. Dù thời gian đã trôi qua rất lâu, nhưng cô vẫn luôn khắc ghi trong trái tim rằng, tất cả những con đường thành công mà cô đi đều bắt nguồn từ con đường mòn nhỏ bé đó. Và mọi thành công của cô, hạnh phúc của cô, ánh sáng của cô đều là nhờ người thầy vĩ đại ấy đem đến. Với A-tư-nai, thầy Đuy-sen không chỉ là một người thầy giáo, mà còn là một người cha, một vị chúa thực sự đã sưởi ấm và cứu rỗi cuộc đời cô.

- Chi tiết: Trong văn bản Người thầy đầu tiên, tôi ấn tượng với chi tiết kể những ý tưởng của người họa sĩ về bức tranh vẽ thầy Đuy-sen. Chi tiết nằm ở phần cuối cùng của văn bản. Người họa sĩ đã nghĩ ra bốn ý tưởng cho bức tranh. Bức vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai. Bức vẽ về một đứa bé đi chân không, da rám nắng, trèo lên cao và ngồi lên một cành phong, đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo. Bức tranh đề là “Người thầy đầu tiên”, có thể là lúc thầy Đuy-sen bế trẻ con qua con suối và cạnh đấy, trên những con ngựa no nê hung dữ, những con người đần độn, mũ lông cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông. Hay bức tranh vẽ thầy Đuy-sen tiễn An-tư-nai lên tỉnh. Cả bốn ý tưởng đều thú vị, nhưng riêng tôi ủng hộ bức vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai. Vì hình ảnh hai cây phong là biểu tượng, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân làng Ku-ku-rêu nói chung, nhân vật thầy Đuy-sen và An-tư-nai nói riêng.

- Hình ảnh: Khi đọc văn bản Người thầy đầu tiên, tôi ấn tượng sâu sắc với hình ảnh thầy Đuy-sen lưng thì cõng, tay thì bế các em nhỏ qua suối khi mùa đông đến. Hình ảnh này xuất hiện ở phần thứ ba của văn bản. Mỗi khi đi học, các em học sinh đều phải lội qua một con suối. Đến mùa đông, nước băng lạnh buốt cóng cả chân nên các em không thể lội qua được nữa. Khổ nhất là những em nhỏ, thậm chí chúng còn phát khóc lên. Để giúp học sinh của mình, thầy Đuy-sen đã bế các em qua suối. Hình ảnh người thầy giáo lưng thì cõng, tay thì bế và cứ như thế lần lượt đưa hết các em sang khiến tôi cảm thấy xúc động vô cùng. Có thể thấy rằng, thầy Đuy-sen là một người yêu thương, quan tâm hết mực đến học trò. Thầy không chỉ là giáo viên, mà còn giống như người thân, chăm sóc và lo lắng cho các em. Chỉ một hình ảnh nhỏ nhưng gây ấn tượng sâu sắc.

Sự thấu hiểu và tình cảm thầy trò: Đoạn văn bản thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa thầy giáo Đuy-sen và học trò An-tư-nai. Thầy giáo này hiểu và chia sẻ lo lắng và lo sợ của An-tư-nai về tương lai, và ông cố gắng giúp cô vượt qua những suy nghĩ tiêu cực.

Biểu tượng của hai cây phong: Hai cây phong trở thành biểu tượng cho cuộc sống của An-tư-nai và hi vọng của cô. Thầy Đuy-sen sử dụng hình ảnh của cây phong để tạo ra tương lai lý tưởng cho An-tư-nai và khuyến khích cô học tập để phát triển và thăng tiến.

Lời khuyên và khích lệ của thầy: Thầy Đuy-sen không chỉ trồng cây mà còn đưa ra những lời khuyên và lời khích lệ tinh thần cho An-tư-nai. Ông khuyên cô tin vào tương lai tươi sáng và hãy đặt niềm tin vào khả năng phát triển của mình.

Sự tương quan giữa cây phong và cuộc sống của An-tư-nai: Thầy Đuy-sen lấy cây phong như một ví dụ để An-tư-nai thấy được rằng như cây phong, cuộc sống của cô cũng có thể phát triển và thịnh vượng nếu cô cống hiến cho việc học tập và phấn đấu.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Người thầy đầu tiên (Ai-ma-tốp)
+

NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

(Ai-ma-tốp)

Ngày hôm sau đến trường, tôi nhận thấy ngay thầy Đuy-sen vẻ mặt sa sầm, như đang có điều gì lo nghĩ, mặc dầu thầy cố giấu đi. Tôi còn nhận thấy có điều nữa là không hiểu tại sao thầy không hề nhìn về phía tôi. Sau buổi học, khi chúng tôi ào ào chạy ra khỏi trường như ong vỡ tổ, thầy Đuy-sen gọi giật tôi lại:

- An-tư-nai, đứng lại thầy bảo. – Thầy bước lại gần tôi, nhìn chằm chằm vào mắt rồi đặt tay lên vai tôi – Em đừng về nhà nữa. An-tư-nai, em có hiểu thầy không?

Tôi lặng người đi vì kinh hãi. Bây giờ, tôi mới hiểu thím tôi định làm gì tôi.

Thầy Đuy-sen nói:

- Thầy sẽ chịu trách nhiệm về em. Em ở tạm nhà bác Ka-tan-bai (Kartanbai) với thầy. Và lúc nào cũng phải đi theo thầy.

Chắc hẳn lúc ấy tôi không còn chút máu mặt nào nữa. Thầy Đuy-sen lấy tay nâng cằm tôi lên, nhìn thẳng vào mắt tôi và mỉm cười như mọi khi:

- An-tư-nai, em đừng sợ! – Thầy vừa cười vừa nói – Thầy còn ở bên em, thì em không phải sợ ai cả. Em cứ học đi, cứ đến trường như cũ và đừng nghĩ ngợi gì… Vì thầy vẫn biết là em nhát lắm.

[…] Dù tôi có cố gắng can đảm lên bao nhiêu cho thầy Đuy-sen khỏi bận tâm, những ý nghĩ lo sợ cũng vẫn không buông tha tôi. Vì bất thần lúc nào thím tôi cũng có thể đến cưỡng bức lôi tôi đi. Rồi ở nhà họ muốn làm gì thì làm, không ai ở trong làng cấm được họ cả. Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ được vì mải lo nghĩ tới tai họa sắp đến.

Tất nhiên thầy Đuy-sen hiểu rõ tâm trạng tôi. Cũng có thể vì muốn xua đuổi những ý nghĩ đen tối đó của tôi nên ngày hôm sau thầy mang về trường hai cây phong nhỏ. Sau buổi học, thầy cầm tay tôi dẫn sang một bên. Thầy mỉm cười một nụ cười bí ẩn và bảo tôi:

- An-tư-nai, bây giờ thầy với em cùng làm chung một việc. Hai cây phong này thầy mang về cho em đấy. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, em sẽ là một người tốt. Em có một tâm hồn đẹp và một đầu óc ham học. Thầy bao giờ cũng nghĩ rằng em sẽ trở thành người thông thái. Thầy tin như vậy, em ạ, số phận em nhất định sẽ như thế. em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này. An-tư-nai ạ, ta sẽ tự tay trồng lấy hai cây phong này. Và mong sao em sẽ tìm thấy hạnh phúc trong học tập, ngôi sao nhỏ trong sáng của thầy ạ…

Hai cây phong ấy còn non, vừa cao bằng người tôi, thân biêng biếc. Và khi hai chúng tôi đã trồng xuống khoảnh đất cạnh trường, từ chân núi đưa lên một làn gió nhẹ, lần đầu tiên chạm vào những khóm lá bé lăn tăn như thổi một luồng sinh khí vào chúng. Mấy khóm lá run rẩy, hai cây phong bắt đầu lay động, đung đưa…

- Em trông, đẹp chưa kìa! – Thầy Đuy-sen cười, lùi lại ngắm – Bây giờ ta hãy đào một đường dẫn nước ở ngọn suối đằng kia về. Rồi em sẽ thấy hai cây phong của chúng ta đẹp đến nhường nào! Chúng nó sẽ đứng trên ngọn đồi này, sát cánh nhau như hai anh em. Và mọi người sẽ luôn luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng. Đến khi ấy cả cuộc sống cũng sẽ khác, An-tư-nai ạ. Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn ở phía trước…

Ngay cả bây giờ tôi cũng không sao tìm được những lời lẽ có thể nói lên ít nhiều lòng cảm kích của tôi trước tâm hồn cao thượng của thầy Đuy-sen. Còn khi ấy, tôi chỉ đứng yên nhìn thấy. Tôi nhìn như thể lần đầu tiên tôi được thấy hết vẻ đẹp sáng ngời trên gương mặt thầy, tấm lòng trìu mến và trung hậu ánh lên trong đôi mắt thầy, dường như trước kia tôi chưa từng biết đôi bàn tay của thầy mạnh mẽ và khéo léo như thế nào trong lao động, nụ cười trong sáng của thầy có sức sưởi ấm lòng người đến nhường nào. Và trong lòng tôi, như một đợt sóng nồng nàn, bỗng cuộn lên một tình cảm mới mẻ mà tôi chưa hề biết, từ một thế giới xa lạ nào lan tới. [….]

Lúc ấy, chúng tôi chỉ đứng yên dưới vòm trời trong sáng giữa vùng đồi xuân xanh mơn mởn, mỗi người theo đuổi một ước mơ riêng. Và giờ phút ấy, tôi quên bẵng mối nguy cơ đang lơ lửng trên đời tôi. Thậm chí tôi cũng không hề nghĩ xem ngày mai đây cái gì đang chờ đợi tôi và cũng không nghĩ xem tại sao đã hai ngày nay thím tôi không đi tìm tôi. Có lẽ họ đã quên tôi chăng, hay họ đã đành chịu để mặc tôi? Nhưng thật ra thầy Đuy-sen lại đang nghĩ đến điều đó.

– Em đừng buồn, An-tư-nai a, ta sẽ tìm ra lối thoát. — Thầy Đuy-sen nói khi chúng tôi trở về thôn – Ngày kia, thầy sẽ lên huyện. Thầy sẽ bàn việc của em với các đồng chí trên ấy. Có lẽ họ sẽ nghe thầy mà cho em lên tỉnh học. Em có muốn không?

– Thầy đã nói sao, em cũng xin vâng lời. – Tôi đáp.

[...] Và hôm sau, trong khi ngồi học, tôi cũng chỉ nghĩ đến việc ấy: Tôi sẽ sống ở tỉnh ra sao và biết ở nhà ai? Nếu có ai cho tôi ở nhờ, tôi sẽ bổ củi, xách nước, giặt giũ, họ sai gì tôi cũng làm. Tôi đang suy nghĩ liên miên như thế trong lúc ngồi học thì bỗng giật mình thảng thốt khi chợt nghe tiếng vó ngựa dồn dập sau mấy bức vách ọp ẹp của ngôi trường chúng tôi. Những tiếng động ấy đột ngột quá và mấy con ngựa phi nhanh quá, đến nỗi tưởng như chúng sắp xéo bừa lên ngôi trường. Chúng tôi ai nấy đều nín thở, chờ đợi.

- Các em đừng để ý, cứ lo việc của các em đi. – Thầy Đuy-sen nói nhanh.

Nhưng lúc ấy cánh cửa bỗng mở toang nghe đánh sầm một tiếng và trên ngưỡng cửa, thím tôi hiện ra, trên môi nụ cười hả hê nanh ác, đầy vẻ thách thức. Thầy Đuy-sen bước ra cửa.

- Bà đến có việc gì?

- Đến có việc chẳng dính dáng gì đến mày. Tao đem con tao đi gả chồng. Ê! Cái con cầu bơ cầu bất kia! – Thím chồm về phía tôi, nhưng thầy Đuy-sen đã chặn lối.

- Ở đây toàn là nữ sinh cả, chưa có em nào gả chồng được! – Thầy nói, giọng rắn rỏi và điềm tĩnh.

- Để rồi xem. Ê! Bọn đàn ông! Bắt lấy con chó chết ấy, lôi nó ra!

Thím tôi giơ tay vẫy một tên trong bọn cưỡi ngựa. Đó chính là cái lão mặt đỏ đội mũ da cáo. Thêm hai tên nữa cầm những chiếc gậy nặng vót nhọn xuống ngựa theo sau lão ta. Tên mặt đỏ xông vào thầy Đuy-sen như một con gấu.

[…] Nhưng thầy Đuy-sen đã nhanh tay hơn hẳn. Thầy giơ chân đạp mạnh vào bụng hắn. Hắn kêu lên một tiếng và ngã xuống. Ngay lúc ấy, hai tên cầm gậy nhọn xông vào. Lũ trẻ con kêu rú lên và chạy bổ về phía tôi. Cánh cửa bị xô mạnh vỡ ra từng mảnh. Tôi lao vào đám đánh nhau, lôi theo cả lũ trẻ đang bíu vào người tôi.

– Buông thầy giáo ra! Không được đánh! Tôi đây, bắt tôi đi chứ không được đánh thầy giáo!

Thầy Đuy-sen quay lại nhìn. Mình mẩy thầy máu me bê bết, vẻ căm giận trông rất khủng khiếp. Thầy cúi xuống đất lấy một tấm ván khoa lên, quát:

– Chạy đi các em, chạy về làng! An-tư-nai, chạy đi! — Tiếng kêu của thầy nghẹn ngào thành tiếng nấc.

Chúng nó đã đánh gãy tay thầy Đuy-sen; thầy ép cánh tay vào ngực, bước lùi lại, còn bọn kia thấy thầy không còn sức chống cự, liền xông vào đánh thầy, rống lên như một đàn bò dại. [...]

Bọn chúng vật tôi xuống và trói tay tôi lại. Trong lúc đó, thầy Đuy-sen lăn lộn trên mặt đất.

− Thầy ơi!

Nhưng bọn chúng đã bịt mồm tôi lại và xốc tôi nằm vắt ngang trên yên ngựa.

[…] Tôi không nhớ chúng đem tôi đến đâu và như thế nào. Tôi tỉnh dậy trong một căn lều vải. Những ngôi sao đầu hôm, trầm tĩnh, không chút ưu tư, dòm qua chóp lều để hở. Gần đâu đây một con sông chảy róc rách và nghe văng vắng có tiếng nói chuyện của những người chăn cửu đêm. Bên bếp lửa đã tàn lại có một bà già lầm lì, người khô đét như que củi đang ngồi yên.

[...] Đến đêm thứ ba, tôi nhất quyết trốn đi, dù có sao cũng mặc. Dù có lạc đường hay bị bọn hung đồ đuổi kịp, tôi cũng sẽ chống cự cho đến hơi thở cuối cùng như thấy Đuy-sen. Trong đêm tối, tôi lặng lẽ lần ra phía cửa lều. Tôi sở lên cửa thì thấy nó đã bị buộc chặt bằng một sợi dây thừng tết bằng lông đuôi ngựa. Nút dây xiết cứng rắc rối, tối mịt thế này không thể mở ra được. Tôi bèn cố vén thành lều lên để tìm cách bỏ ra ngoài. Nhưng dù tôi cố sức bao nhiêu cũng không sao vén được: ở phía ngoài cũng có những sợi chào căng sát vách lều xuống đất.

[...] Tôi hăm hở, mê mai đào đất dưới vách lều. Mặt đất ở chỗ ấy lởm chởm những đá không sao đào được. Tôi cáo bằng móng tay, mấy ngón tay tôi toạc rách rớm máu. Và đến khi lỗ đảo đã vừa rộng để thò tay ra ngoài lều thì trời đã hứng sáng. Chó sủa ran, người ở các lều bên đã bắt đầu thức dậy. Có tiếng vỏ rầm rập của một đàn ngựa phi qua lều xuống sông uống nước. Những đàn cừu ngái ngủ kéo qua, thờ phì phò. Rồi có ai đến cạnh lều, thảo cởi những sợi chão căng ở ngoài và bắt đầu đỡ các tấm ni lợp lều. Đó là người đàn bà mặt đen trầm lặng.

[….] Những tấm dạ đều đã cuộn lại, lều chỉ còn lại một cái sườn và tôi như ngồi trong một cái lồng nhìn ra ngoài: cách đẩy không xa, bên kia sông có mấy người đang thắng yên ngựa và xếp đồ đạc lên lưng bỏ. Rồi tôi thấy ba người cưỡi ngựa từ đâu bỗng phi về phía lều tôi đang ngồi. Thoạt tiên, tôi tưởng họ đi tập hợp mọi người lên đường, nhưng khi nhìn kĩ lại, tôi choáng người đi. Đó là thầy Đuy-sen, còn hai người kia thì đội mũ lưỡi trai công an, mặc áo khoác đỉnh dài khuy đỏ.

Tôi ngồi thử ra như người chết rồi, thậm chí cũng không kêu lên được nữa. Tôi mừng quýnh lên: Thầy tôi vẫn sống!

Đầu thầy Đuy-sen quấn băng, tay cũng đeo băng. Thầy nhảy xuống ngựa, giơ chân đập sập cửa, chạy vào lều và kéo phắt tấm chăn đắp trên người lão mặt đỏ.

- Dây! — Thầy Đuy-sen giận dữ quát.

Lão kia nhắc đầu lên, dụi mắt rồi toan chổm lên người thầy, nhưng lập tức phải chịu im khi thấy hai khẩu súng lục của hai người công an chĩa vào mặt. Thầy Đuy-sen túm lấy cổ áo hắn lay mạnh rồi kéo đầu hắn vào sát mặt mình.

- Đồ hèn mạt! – Thầy nói thì thảo qua đôi môi trắng bệch – Bây giờ phải đi theo

Lão kia ngoan ngoãn cất bước. Họ để cho tên mặt đò đi ủng, trói tay hắn lại và xốc lên ngựa. Một trong hai người công an cầm cương dắt đi, còn người kia cưỡi ngựa theo sau.

Tôi ngồi lên yên ngựa của thầy Đuy-sen, còn thầy đi bộ bên cạnh.

[...] Như một cơn ác mộng, đầu tôi cử váng lên. Minh mẩy ê ẩm, tôi đò dẫn ngồi trên lưng ngựa. Thấy Đuy-sen cầm cương đi trước một quãng. Thầy lặng thỉnh, mái đầu quấn băng cái gầm. Đi mãi hồi lâu chúng tôi mới ra khỏi cái thung lũng ghê rợn kia. Hai anh công an vượt lên trước, cách chúng tôi khá xa. Thầy Đuy-san cho ngựa dừng lại và lần đầu tiên nhìn tôi, đôi mắt buồn rười rượi.

- An-tư-nai ơi, thầy không bảo vệ được em, em tha thứ cho thấy nhé. – Thầy Đuy-sen nói, đoạn cầm lấy tay tôi áp lên má. Nhưng dù em có tha thủ đi nữa thì thấy cũng không đời nào có thể tự tha thứ cho minh việc này được.

Tôi khóc nắc lên và gục xuống bờm ngựa, thầy Đuy-sen đứng cạnh, lặng lẽ vuốt tóc tối và đợi tôi nín khóc. Cuối cùng, thấy nói:

- Em binh tâm lại, An-tự-nai a, ta đi đi. Em nghe thấy nhé. Hôm kia, thầy vừa lên huyện. Em sẽ lên tinh học. Em nghe thấy không?

Khi chúng tôi dừng lại bên một ngọn suối trong veo tuôn chảy róc rách, thầy nói:

- An-tư-nai, em xuống ngựa mà tắm một chút. – Thầy rút trong túi ra một miếng xà phòng nhỏ – Cẩm lấy, An-tư-nai, cứ tha hồ dùng cho hết. Thầy sẽ ra kia cho ngựa ăn có một lát, em xuống tắm đi. Và em hãy quên những chuyện đã xảy ra, đừng bao giờ nhớ đến nữa. Tắm đi, An-tư-nai, em sẽ thấy dễ chịu hơn. Được chứ?

Tôi gật đầu. Và khi thầy Đuy-sen đã dắt ngựa đi khuất, tôi thận trọng bước xuống suối. Những viên sỏi trắng, tím, xanh, đỏ từ dưới lòng suối nhìn tôi. Lẫn nước xanh lơ chảy xiết réo lên quanh mắt cá tôi. Tôi lấy tay vốc nước vỗ lên ngực. Những dòng nước mát rượi chảy trên thân thể tôi. Và tôi bắt giác cắt tiếng cười, lần đầu tiên trong suốt mấy ngày hôm ấy. Được cười, thích biết bao nhiêu! Tôi luôn tay vốc nước phả lên người rồi gieo mình xuống làn nước sâu. Dòng suối băng băng cuốn tôi đến một cồn cát. Tôi đứng lên rồi ngụp xuống dòng nước chảy cuồn cuộn, tung bọt trắng xoá.

- Nước ơi, hãy cuốn đi tất cả những bản nhơ, những nỗi ô nhục của mấy ngày hôm nay! Hãy làm cho tôi trong sạch như nước suối này! — Tôi thì thầm rồi cắt tiếng cười vô cớ.

Tại sao vết chân con người không còn lại mãi mãi ở những nơi thân thiết, đáng ghi nhớ đối với lòng họ? Giá giờ đây tôi có thể tìm lại con đường mòn mà thầy Đuy-sen đã đưa tôi xuống núi, tôi sẽ phục xuống đất và hôn lên những vết chân của thầy tôi. Đối với tôi, con đường mòn ấy là con đường dẫn tới mọi con đường. Thiêng liêng và diễm phúc thay ngày hôm ấy, con đường mòn ấy, con đường đã dẫn tôi trở về với cuộc sống, với niềm tin mới vào bản thân mình, với những niềm hi vọng mới, với ánh sáng,… Cảm ơn ánh sáng Mặt Trời, cảm ơn mảnh đất ngày hôm ấy…

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close