Soạn bài Lá cờ thêu sáu chữ vàng SGK Ngữ văn 8 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắnChia sẻ cảm nghĩ của em về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản (qua các tài liệu lịch sử, sách báo, phim ảnh, … mà em đã đọc, đã xem) Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Trước khi đọc 1 Câu 1 (trang 10, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Chia sẻ cảm nghĩ của em về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản (qua các tài liệu lịch sử, sách báo, phim ảnh, … mà em đã đọc, đã xem) Phương pháp giải: Nhớ lại các câu chuyện lịch sử hoặc tham khảo trên internet, sách báo. Lời giải chi tiết: Trần Quốc Toản là một vị anh hùng nhỏ tuổi. Câu chuyện về Trần Quốc Toản bóp nát quả cam đến giờ vẫn được lưu truyền. Ông chính là tấm gương về lòng dũng cảm, cùng tinh thần yêu nước. Trước khi đọc 2 Câu 2 (trang 10, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Ngoài Trần Quốc Toản, em còn biết thêm nhân vật thiếu nhi lỗi lạc nào trong lịch sử? Phương pháp giải: Nhớ lại các nhân vật thiếu nhi lỗi lạc trong lịch sử đã được học hoặc đọc được qua sách báo, internet. Lời giải chi tiết: Ông Trạng Nguyễn Hiền là người vừa có tài năng lỗi lạc, vừa có ý chí kiên trì vượt khó. Đọc văn bản 1 Câu 1 (trang 11, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hoài Văn có những suy nghĩ gì khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước? Phương pháp giải: Theo dõi phần đầu văn bản để trả lời. Lời giải chi tiết: Hoài Văn đoán được ý định của các vị quan quân, chàng muốn được xuống thuyền rồng bàn việc nước, quỳ trước mặt và xin quan gia cho đánh. Đọc văn bản 2 Câu 2 (trang 12, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Điều gì sẽ xảy ra khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép? Phương pháp giải: Đọc văn bản, theo dõi các tình tiết để dự đoán. Lời giải chi tiết: Hoài Văn có thể phạm thượng và sẽ phải chịu tội chết. Đọc văn bản 3 Câu 3 (trang 13, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động của mình? Phương pháp giải: Đọc kỹ lời thoại của Hoài Văn để trả lời. Lời giải chi tiết: Hoài Văn tự biết mình mang tội lớn nhưng chàng cho rằng khi đất nước lâm nguy, đến đứa trẻ cũng phải biết lo nghĩ. Đọc văn bản 4 Câu 4 (trang 13, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Thái độ của Trần Quốc Toản thể hiện như thế nào qua lời nói? Phương pháp giải: Đọc kỹ lời thoại và lời dẫn để xác định thái độ của Trần Quốc Toản Lời giải chi tiết: Thái độ của chàng rất tức giận, cương quyết Đọc văn bản 5 Câu 5 (trang 13, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Cách nhà vua xử lí hành động của Trần Quốc Toản có đúng như dự đoán của em không? Phương pháp giải: Theo dõi tình tiết câu chuyện và so với câu trả lời trước đó để làm bài. Lời giải chi tiết: Khác với dự đoán của em, vua không những không ban cho Quốc Toản tội chết mà còn tặng chàng một quả cam Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hãy tóm tắt nội dung của văn bản và cho biết câu chuyện dựa trên bối cảnh của sự kiện lịch sử nào. Phương pháp giải: Đọc kỹ toàn bộ văn bản và tóm tắt ngắn gọn nội dung. Lời giải chi tiết: *Tóm tắt: Khi biết vua đang bàn việc dưới thuyền cùng các vương hầu, Trần Quốc Toản giằng co với lính canh chạy xuống thuyền rồng xin Vua cho đánh, rồi đặt thanh gươm lên gáy chịu tội. Vua không những tha tội mà còn ban cho Quốc Toản cam quý vì Vua thấy cậu còn trẻ mà đã biết lo việc nước. Vì bị Vua xem là trẻ con và căm giận khi nghĩ tới quân giặc đang lăm le đè đầu cưỡi cổ dân mình, Quốc Toản vô tình bóp nát quả cam. *Bối cảnh lịch sử: giặc Nguyên sai sứ thần sang giả vờ mượn đường để xâm chiếm nước ta, vua và quần thần đang bàn nên đánh hay hòa. Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than? Phương pháp giải: Theo dõi các tình tiết của văn bản, đặc biệt chú ý đến lời thoại và những đoạn miêu tả tâm lý nhân vật. Lời giải chi tiết: Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản cảm thấy sốt ruột và lo lắng không yên. Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản có hành động gì khác thường? Vì sao Trần Quốc Toản có hành động như vậy? Phương pháp giải: Theo dõi đoạn Trần Quốc Toản lao xuống bến gặp vua và lý giải hành động của chàng. Lời giải chi tiết: Hành động: tuốt gươm quát lớn, gây náo động cả bến sông. Lý do: vì chàng đã phải chờ quá lâu, vừa lo lắng vừa sốt ruột nên không chờ được nữa. Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo có thái độ và cách xử lý như thế nào? Thái độ và cách xử lý đó cho thấy điều gì ở vị vua này? Phương pháp giải: Theo dõi đoạn văn miêu tả hành động và lời nói vua ban để trả lời câu hỏi. Lời giải chi tiết: Vua Thiệu Bảo gật đầu, mỉm cười, không những không ban chết mà còn nể tình Trần Quốc Toản còn trẻ mà biết lo lắng cho vua, cho đất nước nên đã thứ tội và tặng chàng một quả cam. → Đây là một vị vua đức độ anh minh, xét sự việc dựa trên cả lý lẫn tình, trân trọng chí khí và nỗi lòng quan tâm đến việc dân, việc nước của người trẻ. Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Trong lời người kể chuyện đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản. Hãy nêu một vài trường hợp và phân tích tác dụng của sự đan xen đó. Phương pháp giải: Tìm một số chi tiết đan xen những ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản trong lời người kể và nêu tác dụng. Lời giải chi tiết: Đoạn Hoài Văn đỡ lấy cam vua ban, lủi thủi bước lên bờ và uất ức nghĩ đến đám quân Thánh Dực, nung nấu ý định chiêu binh mãi mã: “Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua...càng bóp mạnh.” → Tác dụng: khiến cho câu chuyện trở nên sinh động và chân thực hơn. Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những nét tính cách nào của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với các nhân vật khác trong truyện? Phương pháp giải: Theo dõi từng lời thoại của nhân vật để nhận biết được các nét tính cách. Lời giải chi tiết: Trần Quốc Toản là một chàng thiếu niên khảng khái và bộc trực, còn nhỏ nhưng đã đau đáu chuyện nước nhà. Sau khi đọc 7 Câu 7 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử. Hãy nêu một số ví dụ và cho biết tác dụng. Phương pháp giải: Để ý tới ngôn ngữ người kể và ngôn ngữ nhân vật để trả lời. Lời giải chi tiết: Ví dụ như một số từ ngữ Hán Việt thời xưa dùng để mô tả sự vật, sự việc thời kỳ phong kiến lịch sử: phạm thượng, thượng lệnh, tôn thất, bệ kiến, quân pháp vô thân. → Tác dụng: Khiến cho câu chuyện sinh động và chân thực, làm rõ được bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ Sau khi đọc 8 Câu 8 (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hãy khái quát chủ đề của văn bản và cho biết căn cứ vào đâu em khái quát như vậy. Phương pháp giải: Đọc lại văn bản và khái quát chủ đề. Lời giải chi tiết: Dựa vào nhân vật chính và các tình tiết xảy ra trong câu chuyện, có thể khái quát chủ đề câu chuyện: Văn bản thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản, qua đó cho thấy hào khí, tinh thần chống xâm lược của cha ông ta ở thời Trần. Viết kết nối với đọc (trang 15, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam. Phương pháp giải: Đọc lại văn bản, dựa vào nội dung và đáp án đọc hiểu để viết đoạn văn phân tích. Lời giải chi tiết: Chờ đợi quá lâu trên bến mà không được gặp vua để xin đánh, Quốc Toản bèn xông vào thuyền rồng đòi gặp vua để yết kiến và nói lên nguyện vọng của mình. Hiểu rõ đầu đuôi sự tình, vua cho chàng đứng dậy và thứ tội. Chàng tuy đã làm trái phép nước, nhưng thấy Quốc Toản còn trẻ mà đã biết lo việc nước nên vua đã ban cho chàng một quả cam. Việc ban thưởng quả cam cho thấy nhà vua rất tán thưởng hành động này của chàng. Ấm ức vì bị vua xem thường là trẻ con và lo lắng nghĩ tới quân giặc vẫn đang hoành hành, lăm le đè đầu cưỡi cổ dân mình, Quốc Toản bóp nát quả cam vua ban lúc nào không hay. Chi tiết này cũng cho thấy sự gan dạ, dũng cảm, phẩm chất anh hùng của Trần Quốc Toản.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng
+
LÁ CỜ THÊU SÁU CHỮ VÀNG (Trích, Nguyễn Huy Tưởng) Hoài Văn nằn nì thế nào, quân Thánh Dực cũng không cho chàng xuống bến. Hầu đứng trên bờ, thẫn thờ nhìn bế Bình Than. Hai cây đa cổ thụ bóng râm mát che kín cả một khúc sông. Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, đậu dài san sát, sơn đủ các màu. Trên mui thuyền, phất phới những lá cờ của Chiêu Minh Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương, của Chiêu Thành Vương, chú ruột mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đình đều ở gần thuyền ngự. Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm thành hình một con rồng lớn rực rỡ son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng của đấng thiên tử. Hết thuyền của các đại vương, là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các tước hầu, cuối cùng là thuyền của các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Trí Vương, Hưng Hiếu Vương... Thì ra các con trai của Hưng Đạo Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này! Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa. Qua các cửa sổ có chấn song triện và rủ mành mành hoa của thuyền rồng, Hoài Văn thấy các vương hầu đang ngồi bàn việc nước với quan gia. Hoài Văn chẳng biết các vị nói gì. Nhưng bàn gì thì bàn, Hoài Văn dám chắc cũng chẳng ngoài cái việc lớn là cho quân Nguyên mượn đường vào đánh Chiêm Thành hay chống cự lại mà thôi. Dã tâm của quân giặc đã hai năm rõ mười rồi. Nó giả tiếng mượn đường, kì thực là để cướp sống lấy nước Nam. Chỉ có việc đánh, làm gì phải kéo ra tận đây mà bàn đi bàn lại? Chao ôi! Lúc này mà Hoài Văn được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia, và xin quan gia cho đánh! Thuyền rồng im lặng. Tàn tán, cờ quạt và các đồ nghi trượng in màu son vàng trên mặt nước sông trong vắt. Chốc chốc lại thấy những người nội thị quỳ ở ngoài mui, dâng trầu cau, dâng trà, dâng thuốc. Hoài Văn muốn xô mấy người lính Thánh Dực để chạy xuống bến nhưng lại sợ tội chém đầu. Chàng muốn thét to: “Xin quan gia cho đánh”, nhưng lại e phạm thượng! Mấy tháng ở kinh, thấy sứ Nguyên hạch sách đủ điều, Hoài Văn chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ lấy quốc thể. Rồi lại đến ngày quan gia mời các bộ lão khắp bàn dân thiên hạ về kinh để nhà vua hỏi ý dân xem nên cho giặc mượn đường hay nên đánh lại. Các bộ lão là những người quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son gác tía, chưa bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên: “Xin đánh!”, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả tòa điện Diên Hồng. Những người áo vải ấy còn biết đường phải trái, huống chi ta là bậc tôn thất há lại không nghĩ được như học sao? Đến họ mà quan gia còn hỏi kế, sao ta là người gần gụi, quan gia chẳng hỏi một lời? Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống. Hôm nay, đợi mãi từ sớm đến trưa, Hoài Văn thấy đói cồn cào, mắt hoa lên, đầu choáng váng, chân tay buồn bã. Hoài Văn không chịu được nữa. Đứng mãi đây cho đến bao giờ? Thôi thì liều một chết vậy. Ta cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội. Hoài Văn xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Một viên tướng hốt hoảng chạy tới, níu áo Hoài Văn lại. Quốc Toản tuốt gươm, mắt trừng lên một cách điên dại: – Không buông ra, ta chém! Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói: - Quân pháp vô thân”, hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Nhược bằng khinh thường phép nước, anh em tất phải chiếu theo thượng lệnh. Hoài Văn đỏ mặt bừng bừng, quát lớn: – Ta xuống xin bệ kiến quan gia, không kẻ nào được giữ ta lại. Lôi thôi thì hãy nhìn lưỡi gươm này! Viên tướng tái mặt, hô quân sĩ vây kín lấy Hoài Văn. Quốc Toản vung gươm múa tít, không ai dám tới gần. Tiếng kêu, tiếng thét náo động cả bến sông. Vừa lúc ấy thì cuộc họp bàn ở dưới thuyền rồng tạm nghỉ. Vua Thiệu Bảo và nhiều vị vương hầu ra ngoài mui, ngắm cảnh sông nước. Nghe tiếng ồn ào trên bến, vua và các vương hầu nhìn lên, thấy Hoài Văn đang giằng co với một đám quân Thánh Dực. Vua hỏi: – Cái gì trên ấy? Quốc Toản nhìn xuống bến, thấy vua Thiệu Bảo đứng tựa đầu rồng dưới một cái tàn vàng. Nhà vua còn rất trẻ, mặt đỏ như gấc chín. Đứng sau vua là Hưng Đạo Vương cao lớn, chòm râu dài đốm bạc bay theo chiều gió. Chiêu Thành Vương lật đật chạy lên bờ, hỏi cháu: – Cháu không sợ tội chết hay sao mà đến đây? Ai bảo cháu? Hoài Văn thưa: – Cháu nghe tin thiên tử họp với các vương hầu ở đây nên cháu đến. - Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước. Bên trong là tình họ hàng máu mủ, xuề xoà, thân mật với nhau thế nào cũng được. Nhưng ra ngoài là việc nước, có tôn ti, có phép tắc, không thể coi thường. Cháu tự tiện đến đây đã là không phải, lại gây sự với quân Thánh Dực, đấy là tội chết. Chú cũng phải vạ lây. Sao cháu không nghe lời chú, về quê thờ mẹ, mà lại tự nhiên vô cớ đến đây gây ra cái vạ tày trời này? Hoài Văn cúi đầu thưa: – Cháu biết là mang tội lớn. Nhưng cháu trộm nghĩ rằng khi quốc biến thì đến đứa trẻ cũng phải lo, huống hồ cháu đã lớn. Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước, nhưng cháu có phải là giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được? Vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo. Cha cháu mất sớm, cháu được chú nuôi nấng. Chú thường dạy cháu những điều trung nghĩa, cháu vẫn ghi trong tấc dạ. Cháu liều chết đến đây, chỉ muốn góp một vài lời. Thưa chú, chẳng hay quan gia cùng các vương hầu bàn định thế nào? Cho nó mượn đường hay đánh lại? – Việc đó còn đang bàn. Có người chủ chiến. Có người chủ hoà... Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên: – Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư? Không biết đấy là kế giả đồ diệt Quắc của nó đấy sao? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao mà lại bàn thế? Quốc Toản chạy xồng xộc xuống bến, quỳ xuống tâu vua, tiếng nói như thét: – Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước. Nói xong, Hoài Văn run bắn, tự đặt thanh gươm lên gáy và xin chịu tội. Thiệu Bảo gật đầu, mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương và Hưng Đạo Vương cũng gật đầu. Lời nói của Hoài Văn chính hợp với ý của nhà vua và Hưng Đạo. Nhưng trong đám vương hầu, có một người sầm nét mặt. Đấy là Chiêu Quốc Vương Ích Tắc. Ích Tắc là kẻ chủ hoà. Chiêu Quốc Vương nói: – Hoài Văn Hầu làm loạn phép nước. Muốn trị nước phải trị người thân trước đã. Cúi xin quan gia cho chém đầu để nghiêm quân lệnh! Hoài Văn cúi rạp đầu xuống đất. Bên cạnh Hoài Văn, Chiêu Thành Vương cũng quỳ để xin chịu tội. Thiệu Bảo ôn tồn nói: – Hoài Văn Hầu làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không dung. Nhưng Hoài Văn còn trẻ, tình cũng đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng. Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy, và nói tiếp: – Việc nước đã có người lớn lo. Hoài Văn Hầu nên về quê để phu nhân có người sớm hôm trông cậy. Đế vương lấy hiếu trị thiên hạ, em ta không nên sao nhãng phận làm con. Vừa lúc ấy, một người nội thị bưng một mâm cỗ đi qua. Thiệu Bảo cầm lấy một quả cam sành chín mọng trên mâm, bảo một nội thị đưa xuống cho Hoài Văn. Vua nói: – Tất cả các vương hầu đến đây đều có phần cam. Chẳng có lẽ Hoài Văn lại không được hưởng. Vậy thưởng cho em ta một quả. Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua, lủi thủi bước lên bờ. Đằng sau có tiếng cười của Thiệu Bảo và các vương hầu. Nghe rõ cả tiếng cười của mấy vị tước vương chỉ nhỉnh hơn mình vài tuổi. Vua ban cam quý. Nhưng việc dự bàn thì vẫn không cho. Hoài Văn tức, vừa hờn vừa tủi. Uất nhất là đám quân Thánh Dực cũng khúc khích cười chế nhạo. Hoài Văn quắc mắt, nắm chặt bàn tay lại. Được rồi! Ta sẽ chiêu binh mãi mã, cầm quân đi đánh giặc. Xem cái thằng phải đứng ngoài rìa này có phải là một kẻ toi cơm không. Hai hàm răng Hoài Văn nghiến chặt. Hai bàn tay càng nắm chặt lại, như để nghiền nát một cái gì. Hai bàn tay rung lên vì giận dữ. Hoài Văn lẩm bẩm: “Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ biết tay ta.”. Hai nắm tay Hoài Văn càng bóp mạnh. Đám người nhà trông thấy Hoài Văn hầm hầm trở ra thì chạy ùa tới hỏi chuyện. Để đỡ ngượng với họ, Hoài Văn nói liều: - Ta đã tâu với quan gia cho đánh. Quan gia ban cho ta quả cam này. Ơn vua lộc nước, ta đem về để biểu mẫu thân. Trần Quốc Toản xoè bàn tay phải ra. Quả cam đã nát bét, chỉ còn trơ bã. (Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, tr. 11–19)
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận