Soạn bài Một thể thơ độc đáo của người Việt SGK Ngữ văn 9 tập 1 Kết nối tri thức

Theo thông tin trong văn bản, thơ song thất lục bát ra đời khi nào?

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Văn bản giới thiệu về thể thơ song thất lục bát (nguồn gốc, các đặc điểm về hình thức, nội dung, sự phát triển của thể thơ), đồng thời khẳng định đây là thể thơ độc đáo của người Việt.

Câu 1

Trả lời Câu hỏi 1 trang 52 SGK Văn 9 Kết nối tri thức

Theo thông tin trong văn bản, thơ song thất lục bát ra đời khi nào?

Phương pháp giải:

Đọc toàn văn bản để đưa ra thông tin về thời gian ra đời.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Thời gian ra đời: Khoảng thế kỉ XV – XVI, xuất hiện trước sau không lâu.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Khoảng thế kỉ XV – XVI

Thơ song thất lục bát ra đời: Khoảng thế kỉ XV – XVI, xuất hiện trước sau không lâu.

Thời gian: khoảng thế kỉ XV – XVI

Vào khoảng thế kỉ XV-XVI, với sự ra đời của tác phẩm:

- Chi Nam ngọc âm giải nghĩa (sáng tác vào khoảng thế kì XV, chưa rõ tác giả)

- Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn (1505, Lê Đức Mao)

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Câu 2

Trả lời Câu hỏi 2 trang 52 SGK Văn 9 Kết nối tri thức

Đặc điểm hình thức nào giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ toàn văn bản để chỉ ra đặc điểm hình thức của thơ.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Về cơ bản, những nét đặc sắc về hình thức của thơ song thất lục bát như thanh điệu, vần, sự đa dạng về số chữ trong một câu thơ, nhịp điệu, ... giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Đặc điểm hình thức: Những câu thơ dài ngắn đan xen, cùng mật độ vần lớn khiến cho các câu thơ luôn phối hợp hài hòa với nhau tạo nên âm hưởng du dương, giàu nhạc tính

- Những câu thơ dài ngắn đan xen

- Mật độ vần lớn khiến cho các câu thơ luôn phối hợp hài hòa với nhau tạo nên âm hưởng du dương, giàu nhạc tính

Đặc điểm hình thức: những câu thơ dài ngắn đan xen, cùng mật độ vần lớn

Các câu thơ dài và ngắn đan xen

Mật độ tiếng gieo vần lớn

Các câu thơ song thất lục bát luôn phối hợp hài hòa với nhau

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Câu 3

Trả lời Câu hỏi 3 trang 52 SGK Văn 9 Kết nối tri thức

Văn bản đề cập những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa thơ song thất lục bát và thơ lục bát?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Theo nội dung văn bản, thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng ở quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát. VB lưu ý hai phương diện khác biệt giữa hai thể thơ này là thanh điệu và vần của cặp câu song thất.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

- Điểm tương đồng: Quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát.

- Điểm khác biệt: Chủ yếu nằm ở cặp câu song thất.

+ Thể song thất có bảy tiếng gieo vần trong khi thơ lục bát chỉ có 6 tiếng.

- Tương đồng: Quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát.

- Khác biệt: Thể song thất có bảy tiếng gieo vần trong khi thơ lục bát chỉ có 6 tiếng.

- Tương đồng: quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát.

- Điểm khác biệt: chủ yếu nằm ở cặp song thất, song thất lục bát có bảy tiếng gieo vần, lục bát chỉ có sáu




Thơ lục bát

Thơ song thất lục bát

Điểm giống

- Quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát

Điểm khác

- Các cặp câu lục bát nối tiếp nhau

- Cứ 4 câu thơ sẽ có sáu tiếng gieo vần

- Đan xen giữa cặp câu lục bát và song thất

- Thanh điệu: cặp câu song thất chú trọng quy chuẩn thanh điệu của các tiếng ở vị trí lẻ

- Vần: mỗi câu thất đều có cả vần chân và vần lưng

- Cứ 4 câu thơ có 7 tiếng gieo vần

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Câu 4

Trả lời Câu hỏi 4 trang 52 SGK Văn 9 Kết nối tri thức

Theo văn bản, vì sao thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong thời kì hiện đại?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ toàn văn bản để đưa ra lí do về việc thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong thời kì hiện đại.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Thơ song thất lục bát vẫn được sáng tác trong thời kì hiện đại như: vẻ đẹp, sức truyền cảm đặc biệt, mang hơi thở của thời đại mới, truyền tải những tâm trạng, xúc cảm mới mẻ, đem lại ấn tượng về những tình cảm thân thương, có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng, ...

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Trong thời kì hiện đại vẫn được sử dụng bởi vẻ đẹp và thể hiện được sự truyền cảm mạnh mẽ sâu lắng.

Bởi vẻ đẹp và thể hiện được sự truyền cảm mạnh mẽ sâu lắng.

Thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong thời kì hiện đại vì truyền tải được tâm trạng, cảm xúc

Bởi thể thơ song thất lục bát có các đặc điểm:

- Cách gieo vần độc đáo, không có quy luật cứng nhắc, nên không xung đột với sự cởi mở của thơ ca hiện đại

- Mang hơi thở của thời đại mới

- Có khả năng truyền tải đủ mọi cung bậc cảm xúc của con người

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4
Cách 5

Câu 5

Trả lời Câu hỏi 5 trang 52 SGK Văn 9 Kết nối tri thức

Trình bày suy nghĩ của em về nhận định của tác giả đối với thể thơ song thất lục bát “Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình”.

Phương pháp giải:

Đọc lại toàn văn bản và với những hiểu biết của bản thân để đưa ra suy nghĩ.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Theo em nhận định của tác giả rất đúng và có ý nghĩa to lớn. Thể thơ song thất lục bát với cấu trúc câu và đặc điểm gieo vần rất đặc biệt khiến cho thông qua các bài thơ, các tác giả gửi gắm tình cảm, tâm hồn của mình trong đó. Tạo nên được khả năng truyền cảm mạnh mẽ và rất sâu lắng, đi sâu vào lòng người đọc. Như trong bài thơ “Khóc Dương Khuê”, Nguyễn Khuyến đã viết những câu song thất lục bát làm nổi bật lên sự tiếc thương sâu sắc, thấm thía tình cảm đáng trân trọng.

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

Xem thêm
Cách 2
Cách 4
Cách 4
Cách 5

Theo em nhận định của tác giả rất đúng và có ý nghĩa to lớn. Thể thơ song thất lục bát với cấu trúc câu và đặc điểm gieo vần rất đặc biệt khiến cho thông qua các bài thơ, các tác giả gửi gắm tình cảm, tâm hồn của mình trong đó. Tạo nên được khả năng truyền cảm mạnh mẽ và rất sâu lắng, đi sâu vào lòng người đọc.

Suy nghĩ: đồng tình

Nguyên nhân: dựa vào đặc điểm nội dung, hình thức của thể thơ

Suy nghĩ: nhận định đúng đắn

Nguyên nhân: thể thơ song thất lục bát mang những đặc điểm truyền thống, giúp gửi gắm trọn vẹn thế giới tình cảm,...

- Em đồng tình với nhận định của tác giả.

- Bởi vì thể thơ song thất lục bát thực sự là một thể thơ chỉ có ở văn học Việt Nam, do người Việt tạo ra, với mục đích truyền tải các cung bậc cảm xúc của người viết. Nên đặc trưng của thể thơ này từ lúc ra đời vẫn luôn là con thuyền chuyên chở những cảm xúc sâu lắng của nhà thơ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 4
Cách 4
Cách 5
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Một thể thơ đọc đáo của người Việt (Dương Lâm An)
+

MỘT THỂ THƠ ĐỌC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT (DƯƠNG LÂM AN)

Thể thơ song thất lục bát là một sáng tạo văn học độc đáo của người Việt.

Những tác phẩm đầu tiên sáng tác bằng thể thơ song thất lục bát là Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa (chưa rõ tác giả, có thể được sáng tác trong thế kỉ XV) và Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn (Bài văn làm hộ tám giáp thưởng cho cô đào được giải, do Lê Đức Mao sáng tác trước khi đỗ Tiến sĩ năm 1505). Một điều thú vị là tác phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn cũng là một trong những trước tác văn học viết đầu tiên có những đoạn viết bằng thể thơ lục bát. Hiện chưa đủ căn cứ để xác định chính xác thời điểm ra đời của tác phẩm đầu tiên viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát. Dẫu vậy, có thể khẳng định rằng hai thể thơ này đều được người Việt sáng tạo trong thời gian khoảng thế kỉ XV – XVI, xuất hiện trước sau không lâu.

Thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng ở quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát. Không xét đến các trường hợp lục bát biến thể, về cơ bản, thanh điệu được cố định ở câu lục (các vị trí tiếng thứ 2, 4 và 6) là bằng trắc – bằng, còn thanh điệu ở câu bát (các vị trí tiếng thứ 2, 4, 6 và 8) là bằng — trắc bằng – bằng; vần chân được gieo ở cả hai câu, còn vần lưng được gieo ở tiếng thứ 6 (có khi ở tiếng thứ 4) của câu bát. Sự khác biệt giữa hai thể thơ này căn bản nằm ở cặp câu song thất. Về thanh điệu, cặp câu song thất chú trọng quy chuẩn thanh điệu của các tiếng ở vị trí lẻ trong câu thơ (tiếng thứ 5 và 7 ở câu thất thứ nhất lần lượt là bằng – trắc; tiếng thứ 3, 5 và 7 ở câu thất thứ hai lần lượt là bằng – trắc – bằng). Về vần, mỗi câu thất đều có cả vần chân và vần lưng. Do vậy mà cứ 28 chữ (tiếng), tương đương với một nhóm bốn câu thơ, thì thể song thất lục bát có bảy tiếng gieo vần, trong khi thơ lục bát chỉ có sáu. Chẳng hạn, tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản diễn Nôm) mở đầu bằng những câu thơ sau:

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Nào ai gây dựng cho nên nỗi này?

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.

Chín lần gươm báu trao tay,

Nữa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh...

Những câu thơ dài và ngắn đan xen, cùng mật độ vần lớn (trung bình mỗi bốn tiếng có một vần) không một thể thơ nào ra đời trước đó có thể sánh bằng, khiến những câu thơ song thất lục bát luôn phối hợp hài hòa với nhau, tạo nên âm hưởng du dương, giàu nhạc tính.

Giàu nhạc tỉnh là một điểm mạnh được thơ song thất lục bát phát huy ở một thể loại trữ tình trong văn học Việt Nam: ngâm khúc. Những khúc ngâm như bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm được cho là của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), Ai tư vấn của Lê Ngọc Hân (1770 – 1799), Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ (sống khoảng thế kỉ XIX), bản diễn Nôm Tì bà hành của Phan Huy Thực (1778 – 1844), bản diễn Nôm Chức cẩm hồi văn của Ngô Thế Vinh (1802 – 1856), Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận (1815 – 1866)... đã khẳng định một giai đoạn cực thịnh của ngâm khúc cũng như thể song thất lục bát trong khoảng thế kỉ XVIII – XIX. Mặc dù ngâm khúc trong văn học Việt Nam được sáng tác bằng nhiều thể thơ khác nhau, nhưng thể thơ song thất lục bát vẫn tạo cho ngâm khúc một dấu ấn riêng, biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc trữ tình bi thương, kết tinh những giá trị nhân văn và hiện thực sâu sắc. Chẳng hạn, những câu thơ cuối tác phẩm Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân khiến người đọc xúc cảm, suy ngẫm về số phận của một con người cũng như những biến thiên của thời cuộc:

Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,

Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!

Phút giây bãi bể nương dâu,

Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?

Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,

Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau.

Mấy lời tâm sự trước sau,

Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.

Ngoài ngâm khúc, song thất lục bát còn được dùng trong nhiều thể loại văn học khác (ca trù, văn tế, thơ,...), với những tác phẩm nổi tiếng như Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao, Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải (sống khoảng thế kỉ XVI), Văn tế thập loại chủng sinh của Nguyễn Du (1765 – 1820), Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), bản dịch Hải ngoại huyết thư ) của Lê Đại (1875 – 1952)... Dù ở thể loại nào, thơ song thất lục bát vẫn luôn thể hiện được khả năng truyền cảm mạnh mẽ mà sâu lắng. Để bày tỏ nỗi xót xa khi hay tin người bạn thân thiết không còn nữa, Nguyễn Khuyến đã viết những câu thơ song thất lục bát thật thấm thía trong bài thơ Khóc Dương Khuê

Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

Đầu thế kỉ XX, các nhà thơ danh tiếng như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn Khải,... có nhiều sáng tác theo thể song thất lục bát. Một số nhà thơ hiện đại như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Binh, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu,... vẫn tiếp tục sử dụng song thất lục bát khi sáng tác, bởi vẻ đẹp, sức truyền cảm đặc biệt của thể thơ này. Tất nhiên, thay cho tâm trạng buồn thương thường trực trong quá khứ, những tác phẩm hiện đại viết theo thể song thất lục bát đã mang hơi thở của thời đại mới, truyền tải những tâm trạng, xúc cảm mới mẻ. Như với tác phẩm Ba mươi năm đời ta có Đảng, Tố Hữu đã mang một sức sống tươi trẻ của nước Việt Nam mới gửi gắm vào trong những câu thơ song thất lục bát:

Màu áo mới nâu non nắng chói

Mái trường tươi roi rói ngói son

Đã nghe nước chảy lên non

Đã nghe đất chuyển thành con sông dài…

Ngày này, thể thơ cổ điển này không còn thịnh hành, nhưng với mỗi người Việt Nam, những câu thơ song thất lục bát vẫn luôn đem lại ấn tượng về những tình cảm thân thương. Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình.

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close