Soạn bài Người ngồi đợi trước hiên nhà SGK Ngữ Văn 7 tập 2 Cánh diều - siêu ngắnĐọc trước văn bản Người ngồi đợi trước hiên nhà, tìm hiểu thêm về tác giả Huỳnh Như Phương. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Chuẩn bị 1 Câu 1 (trang 58, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản và tìm hiểu thêm về tác giả. Lời giải chi tiết: - Huỳnh Như Phương (1955), quê ở Quảng Ngãi - Là nhà giáo chuyên giảng dạy lý thuyết văn học ở Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM, đồng thời là nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước năm 1975. Chuẩn bị 2 Câu 2 (trang 58, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Tham khảo các nguồn thông tin trên sách báo, internet Lời giải chi tiết: - Chiến tranh khiến cho các gia đình phải li tán, rơi vào cảnh thiếu thốn khó khăn: mẹ xa con, vợ xa chồng, cuộc sống nghèo đói khổ sở,.. - Bom đạn cướp đi biết bao sinh mạng quý giá, để lại nỗi thống khổ nhớ nhung và gánh nặng cho những người ở lại. Đọc hiểu 1 Câu 1 (trang 58, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc nhan đề, quan sát tranh minh họa để tìm ra mối liên hệ. Lời giải chi tiết: Hình ảnh này liên quan mật thiết đến nhan đề “Người ngồi đợi trước hiên nhà”. Đọc hiểu 2 Câu 2 (trang 59, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản, chú ý đoạn “Nhà ngoại tôi năm người ra đi … đôi người đôi ngả” Lời giải chi tiết: Dượng Bảy và dì Bảy chia tay khi chỉ vừa cưới nhau được một tháng Đọc hiểu 3 Câu 3 (trang 59, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản, chú ý giọng kể, lời kể Lời giải chi tiết: Ngôi kể: thứ nhất, xưng “tôi” Đọc hiểu 4 Câu 4 (trang 59, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản, chú ý đoạn “Nhà tôi gần đường số 1 … đường hành quân” Lời giải chi tiết: Qua những lá thư gói trong bọc ni lông, những tin tức từ chiến trường, qua người đi đường báo tin và trao giùm kỉ vật. Đọc hiểu 5 Câu 5 (trang 60, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản, chú ý đoạn “Những ngày sau đó … ngưng tiếng súng” Lời giải chi tiết: Dượng Bảy hi sinh trong trận đánh ở Xuân Lộc, chỉ mươi ngày trước khi trận chiến kết thúc. Đọc hiểu 6 Câu 6 (trang 60, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Giọng kể của tác giả đầy xót xa thương cảm. Đọc hiểu 7 Câu 7 (trang 60, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Tác giả đồng cảm và thương xót, băn khoăn không biết nếu ngày xưa đi bước nữa thì liệu bây giờ dì có được hạnh phúc hay không. Đọc hiểu 8 Câu 8 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Tác dụng khẳng định đây là một câu chuyện có thật Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Bài tản văn viết về dì Bảy, về việc dì mãi ngóng đợi người chồng đã bỏ mạng vì chiến tranh. Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản Lời giải chi tiết: c – e – a – d – b. Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Tự sự kết hợp biểu cảm => bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của tác giả với câu chuyện Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết:
Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Em cảm thấy vô cùng may mắn vì được sống trong độc lập, tự do và đủ đầy no ấm, đồng thời thấy biết ơn công lao của thế hệ cha anh đi trước đã hi sinh tuổi trẻ thậm chí cả mạng sống để bảo vệ Tổ quốc. Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 61, SGK Ngữ văn 7 tập 2) Phương pháp giải: Đọc kỹ văn bản. Lời giải chi tiết: Qua câu chuyện, em thấy được ở dì sự chờ đợi, thương yêu, không quản khó nhọc hi sinh vun vén gia đình, thủy chung một lòng với người chồng nơi chiến trận.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Người ngồi trước hiên nhà
+
Người ngồi trước hiên nhà Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) được kí kết, cuối năm 1954 – đầu năm 1955, ở quê tôi gần một nửa số gia đình có người thân đi tập kết ra miền Bắc. Không khí làng quê chùng xuống vì tình cảnh kẻ Bắc người Nam. Những người đàn bà tiễn chồng, tiễn con ra đi, mắt đẫm lệ, hẹn hai năm trở về mà lòng còn nghi ngại. Chính quyền “quốc gia” tiếp thu từ vĩ tuyến 17 trở vào và những người con đất Quảng từng hiến tuổi thanh xuân cho cuộc kháng chiến chống Pháp đành phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, theo đơn vị vào Quy Nhơn, xuống chiếc tàu Ba Lan đang đợi sẵn. Nhiều người ra đi khi vừa lập gia đình, để lại những người vợ trẻ, có người mang bào thai trong bụng. Nhà ngoại tôi năm người ra đi trên những chuyến tàu năm ấy: ông ngoại, hai người con trai và hai người con rể. Mới một tháng trước đó, nhà ngoại rộn rã với đám cưới của dì Bảy. Dượng Bảy người Tam Kỳ, mồ côi cả cha mẹ, đi bộ đội, đóng quân ở làng tôi, thầm yêu dì, rồi đơn vị đứng ra làm lễ cưới. Chỉ một tháng sau là đơn vị chuyển đi, đôi người đôi ngả. Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn tìm cách liên lạc với gia đình. Thỉnh thoảng một lá thư gói trong bọc ni lông bé tí chuyển đến nhà tôi giữa đêm khuya mang theo tin tức của dượng như một niềm hi vọng đáp lại nỗi trông chờ mòn mỏi của dì. Năm dượng đi, dì tròn 20 tuổi. Suốt 20 năm sau đó, có những người ngỏ ý, dạm hỏi, dì vẫn không lung lạc, với niềm tin sẽ có ngày dượng trở về. Gần cuối cuộc chiến tranh, tin tức của dượng về nhà thường xuyên hơn. Hình như lời cầu nguyện của dì linh ứng để dượng tránh hòn tên mũi đạn nơi chiến trường. Nhà tôi gần đường số 1. Mỗi ngày, sau khi đi làm đồng trở về, dì tôi thường ngồi trên bộ phản gõ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng cùng những người đồng đội lần đầu đến nhà tôi xin chỗ trú quân. Tháng 4 năm 1975, những đoàn xe Mô-lô-tô-va (Molotova) nối tiếp nhau chạy ngang trước nhà tôi để chuyển quân vào mặt trận phía Nam. Dượng tôi ở trên một chuyến xe đó. 20 năm, dượng không quên người xưa nhưng đã quên cảnh cũ. Khi đến địa phận huyện Mộ Đức, dượng đảo mắt tìm xóm nhà quê vợ những không nhận ra vì cảnh vật đổi thay. Đến khi dừng lại hỏi nhà, thì xe đã chạy vượt qua gần năm cây số. Trên đường tiến quân, đâu thể quay xe trở lại, dượng chỉ kịp nhờ một người đi đường báo tin cho gia đình và gửi tặng dì tôi một chiếc nón bài thơ mua được trên đường hành quân. Những ngày sau đó, gia đình tôi nao nức trong niềm vui chờ đợi. Ông ngoại tôi mất sớm trên miền Bắc, ba tôi hi sinh trên chiến trường đã tám năm, nỗi đau dần nguôi ngoai. Nhà có năm người ra đi, ba người trở về, cũng còn là may mắn. Dì Bảy tôi lại ngồi trước hiên nhà mỏi mắt nhìn ra đường cái. Nhưng hai cậu tôi lần lượt trở về mà dượng Bảy vẫn không tin tức. Những chiếc xe chở bộ đội hồi hương chạy qua không dừng lại. Gia đình dò hỏi các nơi, mãi đến cuối năm 1975 mới nhận giấy báo tử: dượng ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, cửa ngõ phía đông bắc Sài Gòn, chỉ mươi ngày trước khi chiến tranh ngưng tiếng súng. Như trong một câu chuyện cổ, người kị sĩ ra đi trên lưng chiến mã, nhưng ngày chiến thắng chỉ có chiến mã trở về mà không có bóng dáng người trên lưng ngựa. Dì tôi nén nỗi đau vào bên trong. Nhà tôi lập bàn thờ cho dượng. Tôi đã nhờ người về tận xã Tam Thanh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tìm gia đình dượng, nhưng không ai còn nhớ tên người lính cũ Nguyễn Ngọc Linh. Gần đây dò tìm danh sách liệt sĩ trên mạng, cũng không có thông tin gì để tìm mộ phần của dượng. Ngày hòa bình, dì tôi đã qua tuổi 40. Vẫn có người đàn ông để ý đến dì, nhưng lòng dì không còn rung động. Bà ngoại tôi ngày một già yếu. Những người con trai của bà về thăm ít ngày rồi lại đi ra thành phố. Những người con gái theo chồng, theo con. Chỉ còn mình dì Bảy ở lại chăm sóc bà, trông coi nhà thờ giữa khu vườn ít bàn tay vun xới. Bà ngoại mất, mấy năm trước, dì vào Thành phố Hồ Chí Minh sống với em, nhưng được ít lâu, nhớ quê, lại về sống một mình trong ngôi nhà cũ. Dì lại tiếp tục những bữa cơm vắng lặng như mấy mươi năm trước. Và mỗi buổi chiều muộn, dì lại ra ngồi trước hiên nhà nhìn con đường kéo dài như nỗi chờ mong trong vô vọng. Đêm đêm, ngọn đèn dầu trên gian thờ lập lòe theo tiếng kêu của thạch sùng, có cảm giác như thời gian ngưng đọng đã từ lâu lắm. Mỗi lần về thăm, ngồi bên mâm cơm đạm bạc với dì, tôi chợt nghĩ nếu ngày đó dì đi bước nữa, thì liệu bây giờ dì có được hưởng hạnh phúc hay không. […] Mùa lụt năm ngoái, sau những trận mưa dữ dội, vùng quê tôi nước tràn trắng trời trắng đất. Nhà ngoại tôi nước ngập ngang cửa sổ, gần bằng trận lụt năm Giáp Thìn (1964). Nhớ hồi đó, tôi còn nhỏ, nhà tôi đông người, thôn xóm cho ghe đến tận nhà chuyển người và gia súc lên vùng đồi cao. Lần này, chỉ có dì Bảy với người cháu gái, nửa đêm nước dâng vào nhà bất thần, may có vài người bà con ở gần đến giúp đỡ kê bàn ghế để chỗ nằm cao hơn mặt nước, chờ đất trời thu nước xuống. Mùa lũ dữ rồi cũng qua, vườn rau xanh trở lại. Những ngày này, dì tôi, bà Lê Thị Thỏa, một trong bao người phụ nữ bình dị đã đi qua chiến tranh, năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết ở ngôi nhà gần cầu Vĩnh Phú thuộc thị trấn Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyện cầu hồn thiêng những người đã ngã xuống độ trì cho dì bình an, trường thọ.
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận