Soạn bài Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam SGK Ngữ Văn 7 tập 2 Cánh diều - siêu ngắn

Đọc trước văn bản Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa, tìm hiểu thêm về các phương tiện được nói đến trong văn bản này.

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Văn bản giới thiệu cho người đọc về một số phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số. Từ đó thấy rằng, phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong khoảng thế kỷ X - XVIII là bộ phận quan trọng không thể thiếu và thuộc thành tố văn hóa vật chất của các cộng đồng tộc người.


Chuẩn bị 1

Câu 1 (trang 83, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc trước văn bản và tìm hiểu thêm về các phương tiện được nhắc đến

Lời giải chi tiết:

- Cư dân miền núi phía Bắc dùng bè, mảng tương đối phổ biến.

- Thuyền đuôi én của cư dân các dân tộc sống ven sông Đà được đục đẽo, chế tạo từ một thân gỗ tròn, thân thuyền thon dài, mũi và đuôi nhọn.

- Xe quệt trâu được đóng bằng gỗ, tre, đầu mắc dây cho trâu kéo được nâng cao hơn bởi độ dày của hai càng quệt.

Xem thêm cách soạn khác

Chuẩn bị 2

Câu 2 (trang 83, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Trình bày các phương tiện vận chuyển của một vài dân tộc thiểu số mà em biết.

Lời giải chi tiết:

Em biết các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông, Ê-đê. Phương tiện vận chuyển của họ thường là ngựa, hoặc voi do địa hình đồi núi trắc trở vòng vèo.

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 1

Câu 1 (trang 83, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản

Lời giải chi tiết:

Triển khai ý tưởng và thông tin theo cách phân chia đối tượng thành nhiều loại

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 2

Câu 2 (trang 83, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Các phương tiện vận chuyển gắn với dân tộc trong mục 1: thuyền, bè, mảng, thuyền độc mộc đuôi én, xe quệt trâu kéo, ngựa

Xem thêm cách soạn khác

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 3

Câu 3 (trang 84, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

- Ngựa (Người Mông (H'mông), Hà Nhi, Dao): do địa hình vùng núi hiểm trở

- Thuyền (ven sông Đà, sông Mã, hay sông Lam…): do sông, suối là con đường lưu thông chủ yếu.

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 4

Câu 4 (trang 85, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Những phương tiện người Tây Nguyên sử dụng: voi, ngựa, thuyền độc mộc

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 5

Câu 5 (trang 85, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Mục đích: giúp người đọc có thể tìm đọc thêm các tác phẩm có liên quan, đồng thời khẳng định tính minh bạch, rõ ràng của một tác phẩm văn học.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 86, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 86, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Triển khai theo cách phân chia đối tượng thành nhiều loại làm rõ vấn đề giúp người đọc dễ hình dung, nắm bắt.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 86, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản

Lời giải chi tiết:

- Những phương tiện đó là thuyền, ngựa, voi,…

- Đặc điểm: thô sơ, chưa có động cơ hay máy móc.

- Chúng được sử dụng để giúp cho việc di chuyển và vận chuyển của người dân thuận tiện, dễ dàng hơn.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 86, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Tác dụng: bổ sung thông tin, giúp người đọc có cơ sở đọc thêm tài liệu mở rộng

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 86, SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Phương pháp giải:

Đọc kỹ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Hiện nay, các dân tộc thiểu số đã bắt đầu sử dụng xe máy tự chế, xe thồ, xe kéo hoặc xuồng máy.

Nguyên nhân của việc thay đổi này là do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa
+

Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa

[…] Phương tiện vận chuyển của các dân tộc miền núi phía Bắc

[…] Trong khoảng thế kỉ X – XVIII, các dân tộc miền núi phía Bắc di chuyển bằng cách đi hộ là chính. Một số tộc người sinh sống ở ven sông Đà, sông Mã hay sông Lam,… (người Kháng, người La Ha, người Mảng, người Thái, người Cống…) đã biết đóng thuyền và sử dụng thuyền vận chuyển, lưu thông trên sông suối lớn. Thuyền của họ được đóng bằng các loại gỗ dai, nhẹ, không nứt, chịu nước,… (như gỗ dầu, gỗ sao,…), tuyệt đối không dùng gỗ trám làm thuyền, nhất là thuyền dùng để đánh cá. Điều này cũng đã được Phạm Thận Duật ghi lại trong Hưng Hoá kí lược", vào thế kỉ XVIII: “Nếu lấy gỗ trám làm thuyền, làm mái chèo,... đánh cá, cá sợ chạy hết, hỏng ăn.”. Nhiều tài liệu cho biết, từ xa xưa, người La Ha, người Kháng, người Thái,... đã nổi tiếng với việc chèo thuyền đuôi én trên sông Đà, sông Mã,. . . Khác với Tây Nguyên, ngoài dùng thuyền, cư dân miền núi phía Bắc còn dùng bè, mảng tương đối phổ biến. [...] Sông, suối là những con đường lưu thông chủ đạo ở miền núi phía Bắc trong nhiều thế kỉ trước.

Cách ngày nay một vài thế kỉ, trước khi lấy vợ, mọi thanh niên người Thái, Kháng, La Ha, phải tự mình vào rừng lấy gỗ, làm cho được một chiếc thuyền đuôi én (độc mộc) dùng làm phương tiện đi lại của riêng họ. Thuyền đuôi én của cư dân các dẫn tộc sống ven sông Đà được đục đẽo, chế tạo từ một thân gỗ tròn, thân thuyền thon dài, mũi và đuôi nhọn. Phần đuôi thuyền được thiết kế cong hẳn lên và có dáng dấp hình đuôi chim én (nộc ẻn). Thuyền đuôi én có loại 2 mái chèo, loại 6 mái chèo, loại 12 mái chèo,... Loại lớn nhất có thể tải được hàng chục tạ hàng hoá.

Người Kháng thường sinh sống ở các địa phương ven sông Đà, nên họ tương đối giỏi trong ché tạo và sử dụng thuyền độc mộc đuôi én. Thuyền của họ làm ra không chỉ để vận chuyển, đi lại, mà còn để bán cho các tộc người láng giềng khác. Thành ngữ Thái có câu: “Thuyền tốt không bằng thuyền của người Kháng; dao tốt không bằng dao của người Lào.”.

[..] Người Sán Dìu còn khá phổ biến trong việc dùng xe quệt trâu kéo để vận chuyển phân bón ra ruộng nương, chở lúa, hoa màu, củi về nhà. Xe quệt của họ đóng bằng gỗ, tre, đầu mắc dây cho trâu kéo được nâng cao hơn bởi độ dày của hai càng quệt. Loại xe quệt này có thể dùng để vận chuyển hàng hoá ở cả đường mòn, bờ ruộng, trên đồi và cả dưới hẻm nhỏ,... Đây là loại phương tiện xuất hiện khá sớm và khá phổ biến đối với người Sán Dìu.

Người Mông (Hmông), Hà Nhì, Dao,... thường cưỡi ngựa và dùng sức ngựa để vận chuyển đồ đạc, hàng hoá hay đi chợ. Đây vừa là sở thích, vừa là cung cách vận chuyển, lưu thông, di chuyển ưu việt nhất ở vùng núi hiểm trở. Đáng chú ý nhất là người Mông ở cao nguyên núi đá Hà Giang, vùng cao thuộc dãy Phan Xi Păng, huyện Mường Khương (Lào Cai),... dùng ngựa thồ như một cách vận chuyển và di chuyển duy nhất phổ biến ở khắp các bản làng. [..]

Phương tiện vận chuyển của các dân tộc ở Tây Nguyên

[…] Người Tây Nguyên hiếm khi dùng trâu làm sức kéo để vận chuyển như một số dân tộc miền núi phía Bắc. Ngược lại, họ dùng sức voi, sức ngựa,... vào việc vận chuyển, nhất là người Gia-rai, Ê-đê, Mnông,...

[…] Trong khoảng từ thế kỉ X − XVIII, nghề săn voi và thuần dưỡng voi đặc biệt phát triển ở vùng Mnông Bu-dâng và Mnông Preh, và nhất là ở khu vực Bản Đôn – Ea-sup. Voi rừng săn bắt được dùng làm voi mồi, voi săn, để vận chuyển hàng hoá, để kéo gỗ, để đi lại,... [...]

Sống ở khu vực nhiều sông suối nhưng cư dân Tây Nguyên lại là những người bơi lội không giỏi. Để có thể vận chuyển, lưu thông trên sông, người ta sử dụng thuyền độc mộc, nhất là các buôn, làng ở ven sông suối lớn. Thuyền độc mộc của cư dân Tây Nguyên không khác nhiều so với thuyền độc mộc của các tộc người ở miền núi phía Bắc. Nó được làm bằng các loại gỗ (dầu, sao,...) nhẹ, xốp, dai, ít nứt và chịu được nước. Tiết diện ngang của những cây gỗ làm thuyền nhiều khi tới cả mét, chiều dài dăm, bảy, thậm chí chục mét, tuỳ theo từng tộc người. Cách chế tác thuyền duy nhất của họ là dùng rìu và lửa, vừa đẽo vừa đốt; đẽo tới đâu, đốt tới đó. Khi nào vách thuyền còn dày chừng hơn chục xăng-ti-mét là được. Việc dùng thuyền vận chuyển, đi lại trên sông ở Tây Nguyên chỉ phổ biến đối với đàn ông, phụ nữ ít tham gia vào loại hình vận chuyển, đi lại này. [...]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục, NXB Văn học, Hà Nội, 2001.

2. Phạm Thận Duật, Phạm Thận Duật toàn tập, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000.

3. Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1962.

4. Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút, NXB Văn học, Hà Nội, 2001.

5. Lưu Hùng, Văn hoá cổ truyền Tây Nguyên, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1996.

6. Nguyễn Trãi, Dư địa chí, NXB Sử học, Hà Nội, 1960.

(Theo TRẦN BÌNH, dlib.huc.edu.vn)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close