Soạn bài Thực hành đọc Nàng Ờm nhắn nhủ SGK Ngữ văn 11 tập 1 Kết nối tri thức - chi tiếtTóm tắt nội dung văn bản Xác định người kể chuyện trong văn bản và ý nghĩa của việc triển khai câu chuyện theo lời kể của nhân vật này. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Nội dung chính
Câu 1 Câu 1 (trang 122, SGK Ngữ Văn 11, tập một): Tóm tắt nội dung văn bản Phương pháp giải: Đọc kỹ tác phẩm truyện thơ. Lời giải chi tiết: Cách 1 Nội dung văn bản nói về cảnh đầm ấm, hạnh phúc, sum vầy của nàng Ờm và chàng Bồng Hương nơi thế giới bên kia. Họ có được mái ấm cho riêng mình, hạnh phúc biết bao. Nàng đang kể lại câu chuyện của mình và chàng Bồng Hương cho dân làng với hy vọng họ đừng ngăn cấm đôi lứa yêu nhau, khiến họ phải xa cách.
Xem thêm
Cách 2
Văn bản “Nàng Ờm nhắn nhủ” nói về Nàng Ờm và chàng Bồng Hương quê ở đất Cành Nành, làng Ca Da, mường Kỳ Ống, là bạn bè từ thuở nhỏ, lớn lên, yêu nhau và mong được kết đôi vợ chồng. Nhưng do cha mẹ nàng Ờm ngăn cản, cấm đoán nghiệt ngã, họ đã tự kết liễu đời mình. Trở thành vợ chồng ở thế giới bên kia, linh hồn họ vẫn quẩn quanh trên núi Làn Ai để kể lại câu chuyện của mình cho những người còn sống rút ra bài học; mong các đôi lứa khác được sum vầy, hạnh phúc, không phải chịu số phận bất hạnh như họ.
Xem thêm
Cách 2
Câu 2 Câu 2 (trang 122, SGK Ngữ Văn 11, tập một): Xác định người kể chuyện trong văn bản và ý nghĩa của việc triển khai câu chuyện theo lời kể của nhân vật này. Phương pháp giải: Chú ý vào người kể chuyện. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Người kể chuyện: nàng Ờm – nhân vật trong chính câu chuyện của mình - Ý nghĩa của việc triển khai câu chuyện theo lời kể của nhân vật: dựa trên lời kể của chính nhân vật trong truyện, các tình tiết, diễn biến được kể theo lối sinh động, hấp dẫn hơn, giúp người đọc hiểu được tường tận câu chuyện hơn và thông điệp mà nhân vật muốn gửi gắm cũng trở lên rõ ràng hơn.
Xem thêm
Cách 2
- Người kể chuyện: Nàng Ờm. - Ý nghĩa: Các tình tiết, diễn biến được kể theo lối sinh động, hấp dẫn hơn, giúp người đọc hiểu được tường tận câu chuyện và thông điệp mà nhân vật muốn gửi gắm.
Xem thêm
Cách 2
Câu 3 Câu 3 (trang 122, SGK Ngữ Văn 11, tập một): Tìm hiểu khát vọng tình yêu tự do, ước mong hạnh phúc và cách ứng xử nhân văn của người từng chịu cuộc đời đau khổ được thể hiện qua văn bản. Phương pháp giải: Chú ý vào câu chuyện của nàng Ờm. Lời giải chi tiết: Cách 1 Chính bản thân nhân vật trong truyện là người bị bố mẹ ngăn cản tình yêu đôi lứa của mình đến mức nàng và người mình yêu phải tự vẫn, sang thế giới bên kia đoàn tụ, nhưng ta không thấy trong nàng bất kỳ sự oán trách nào. Đúng vậy, cái chết đã giải thoát cho nàng, sang thế giới bên kia, có cuộc sống tự do, hạnh phúc với người mình yêu. Đó là một sự giải thoát một kết quả cao nhất của một tình yêu bị cấm đoán. Nhưng dù vậy, nàng không hề oán trách số phận, oán trách những bậc cha mẹ đã đẩy con cái đến mức đường này. Nàng muốn dùng câu chuyện của mình để khuyên răn họ, để khiến cho các bố, các mẹ hiểu được hành động của họ là sai lầm như thế nào. Hạnh phúc của con người là điều không thể cưỡng cầu, chúng ta nên chấp nhận nó thay vì cấm ép mà dẫn đến kết quả không như mong muốn.
Xem thêm
Cách 2
- Trên cõi trần gian, nàng Ờm và chàng Bồng Hương chẳng đến được với nhau, nên họ đã quyết định cùng về chốn mường Ma để hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Cái chết đã giải thoát cho nàng, sang thế giới bên kia, có cuộc sống tự do, hạnh phúc với người mình yêu. Đó là một sự giải thoát một kết quả cao nhất của một tình yêu bị cấm đoán. - Nhưng nàng không hề oán trách cha mẹ, khi cha mẹ muốn đưa nàng về nhưng hồn vía nàng đã từ chối, xin ở lại núi Làn Ai. Qua đó, nàng muốn những người còn sống “Rút ra bài học” và “ Không phải chịu số phận bất hạnh” như Ờm và Bồng Hương.
Xem thêm
Cách 2
Câu 4 Câu 4 (trang 122, SGK Ngữ Văn 11, tập một): Liên hệ với văn bản Lời tiễn dặn để rút ra những nhận định phù hợp, cần thiết về hướng tiếp nhận các truyện thơ của một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Phương pháp giải: Đọc kỹ 2 tác phẩm Lời tiễn dặn và Nàng Ờm nhắn nhủ để trả lời câu hỏi này. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Chủ đề: thường hướng đến tình cảm đôi lứa - Cốt truyện: diễn ra theo một trình tự nhất định. Từ yêu nhau thắm thiết đến bị bố mẹ ngăn cấm, trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách cuối cùng cũng quay về được bên nhau - Hình thức: số từ trong một dòng, số câu trong một khổ, cách gieo vần, nhịp điệu đều tự do, phóng khoáng không theo bất cứ một quy luật nào.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Nàng Ờm nhắn nhủ
+
Nàng Ờm nhắn nhủ (Trích Nàng Ờm – chàng Bồng Hương - truyện thơ dân tộc Mường) Nàng Ờm và chàng Bồng Hương quê ở đất Cành Nành, làng Ca Da, mường Kỳ Ống, là bạn bè từ thuở nhỏ, lớn lên, yêu nhau và mong được kết đôi vợ chồng. Nhưng do cha mẹ nàng Ờm ngăn trở, cấm đoán nghiệt ngã, họ đã tự kết liễu đời mình. Trở thành vợ chồng ở thế giới bên kia, linh hồn họ vẫn quẩn quanh trên núi Làn Ai để kể lại câu chuyện của mình cho những người còn sống rút ra bài học; mong các đôi lứa khác được sum vầy, hạnh phúc, không phải chịu số phận bất hạnh như họ. Các cố, các mẹ ơi! Hôm nay trăng sáng đẹp trời Em kể lại kiếp khốn cho các mẹ biết Em kể lại kiếp khổ cho các mẹ hay Cái chuyện con Ờm Trên núi Làn Ai Quê nhà Ờm ở đất Cành Nành Làng Ca Da, mường Kỳ Ống Để các mẹ suy đi nghĩ lại Mà thương cho cái kiếp con người Các mẹ sống trên đời Đừng chê người ăn ngón Các cố, các mẹ ơi! Cửa nhà em bận lắm Chàng Bồng Hương lắm việc nhiều công Buổi sớm, đi đánh lưới sông cái Buổi chiều, đi đánh chài sông con Tối tăm săn hổ trên non một mình Còn em, buổi sáng chặn con lợn, con gà Buổi chiều, em đi cấy, đi hải Giữa đêm, anh đan chài vóng cái Về sáng, anh đan lưới vóng ngoài Em thì vào ra củi canh may vá Giờ nhà em lắm cá Giờ nhà em nhiều cơm Tình chồng thắm thiết hơn Nghĩa vợ như đêm trăng sáng Đêm đã khuya, ngày đã rạng Các mẹ ở lại sống lâu trăm năm Các mẹ ở lại thêm trăm ngàn tuổi Nên bố nên mẹ, trong bản trong làng Mừng các mẹ giàu sang Để em quay chân trở lại Quay mặt về núi Làn Ai Em muốn ăn chơi ở chơi Nói cái kiếp khốn cho các mẹ đỡ thương Nói cái kiếp khổ cho các mẹ đỡ tủi Nhưng em không về, con gà nó đợi Nếu em không về, con lợn nó mong Gà nó bới rẫy bông Lợn ăn rỗng phá ha Ngày nào trăng rằm sáng tỏ Mời các mẹ lên thăm của thăm nhà Để biết lối vào đường ra Cho đỡ thương đỡ nhớ Núi Làn Ai nghèo tiền nghèo của Nhưng Làn Ai giàu nghĩa giàu tình. (Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên dịch, Trung tâm Khoa học và Nhân văn quốc gia, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 396 – 397)
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận