Soạn bài Đọc mở rộng theo thể loại: Ngày 30 tết SGK Ngữ văn 12 tập 2 Chân trời sáng tạoNội dung bao quát của văn bản này là gì? Liệt kê những hành động, lời nói của nhân vật Hoài trong đoạn trích. Từ những chi tiết đã liệt kê đó, bạn hãy nhận xét về tính cách của nhân vật này. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Nội dung chính
Câu 1 Trả lời Câu hỏi 1 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Nội dung bao quát của văn bản này là gì? Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 Cảnh sum họp trước giờ cúng tất niên chiều 30 Tết
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Văn bản kể về cuộc viếng thăm gia đình chồng cũ của chị Hoài, người chị dâu cả góa chồng trong nhà. Nội dung bao quát của văn bản này là khung cảnh đoàn viên đêm 30 Tết của đại gia đình nhà ông Bằng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Câu 2 Trả lời Câu hỏi 2 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Liệt kê những hành động, lời nói của nhân vật Hoài trong đoạn trích. Từ những chi tiết đã liệt kê đó, bạn hãy nhận xét về tính cách của nhân vật này. Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 - Chị Hoài là một người phụ nữ qua hai đời chồng, có số phận riêng của chị. Hiện tại chị vẫn có một gia đình riêng nên chị ít còn liên quan đến gia đình nhà chồng đầu tiên đã hi sinh. Tuy nhiên chị vẫn quan tâm đến những biến động của gia đình nhà chồng trước. → Điều đó cho thấy chị là một người sống có tình nghĩa. - Chị Hoài mang vẻ đẹp đằm thắm của người phụ nữ nông thôn: người thon gọn, khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi. - Chị quan tâm tất cả những người trong gia đình bằng một tình cảm chân tình nồng hậu sau bao nhiêu năm xa cách. - Chị kính cẩn nghiêng mình trước bàn thờ tổ tiên chiều 30 Tết. - Chị trở lại gia đình nhà chồng khi gia đình ấy đang có những biến đổi rạn vỡ các mối quan hệ. → Tóm lại qua đây chúng ta thấy chị Hoài không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết. Nhân vật Hoài được nhà văn xây dựng giống như mẫu người phụ nữ vẫn giữ nguyên được nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Chính trị đã đánh thức tình cảm gia đình thiêng liêng về gia tộc khiến cho bữa cơm tất niên trở nên ấm cúng hơn sang trọng và hân hoan hơn so với thời buổi xã hội khó khăn.
Xem thêm
Cách 2
Những hành động, lời nói của nhân vật Hoài: - Ăn mặc giản dị, gương mặt nhân hậu với nụ cười tươi tắn. - Xởi lởi, vui vẻ hỏi thăm từng người trong gia đình chồng cũ, quan tâm từng chuyện buồn vui của từng thành viên trong gia đình cũ của mình. - Đều đặn, viết thư hỏi thăm các em chồng và bố chồng. - Dù bận rộn vẫn cố gắng thu xếp về an ủi gia đình chồng cũ khi có chuyện không vui. - Mang theo những món đặc sản giản dị nhưng chứa đựng sự quan tâm, chăm sóc từ những gì nhỏ nhất. -> Nhân vật Hoài là một người phụ nữ đảm đang khéo léo, giàu tình cảm và mạnh mẽ làm chủ số phận của mình. Đó là kiểu phụ nữ truyền thống, ân tình, thủy chung, là kiểu người lưu giữ những nét đẹp ngàn đời qua những biến thiên dữ dội của thời đại.
Xem thêm
Cách 2
Câu 3 Trả lời Câu hỏi 3 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Phân tích ý nghĩa của những chi tiết trong lời kể của chị Hoài về gia đình mới của chị. Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 Chị Hoài trân trọng gia đình cũ của mình và thương yêu gia đình mới của chị. Dù đã có gia đình khác nhưng chị vẫn luôn dành tình yêu thương và chưa bao giờ coi gia đình cũ là quá khứ phải quên đi.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Những chi tiết về gia đình mới của chị Hoài: Chồng mới và các con chị luôn ủng hộ chị về thăm gia đình cũ, thậm chí con chị còn nhét quà vào tay nải, giục chị đi nhanh, đòi thi thăm gia đình ông Bằng, còn nói về ông Bằng và các em chồng cũ của mẹ như chính ông ông và các cô chú của mình. Từ đó, có thể thấy gia đình mới của chị Hoài rất tôn trọng quá khứ của chị và cũng yêu quý gia đình cũ của chị như bản thân chị. Những chi tiết trong lời kể của chị Hoài về gia đình mới của chị đã bộc lộ cốt cách con người chị. Chị Hoài hiện lên là người phụ nữ thôn quê chân chất, thật thà, chăm chỉ, cần cù và rất mực yêu thương gia đình của mình. Qua lời kể của chị, ta cũng nhận ra chị hài lòng với cuộc sống hiện tại và chị đang sống rất hạnh phúc.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Câu 4 Trả lời Câu hỏi 4 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Tình cảm của mọi người trong gia đình đối với chị Hoài như thế nào? Những hình ảnh, chi tiết nào nói lên tình cảm đó? Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 Mọi người trong gia đình nhà rất quý chị Hoài và coi chị luôn là một thành viên trong gia đình vì chị là một người phụ nữ nhân hậu, biết cách ứng xử trong quan hệ với người khác. Chị đột ngột trở về sum họp cùng gia đình người chồng cũ trong một buổi chiều cuối năm, chị nhận được thư của bố chồng cũ, chị biết được chuyện của cô Phượng và vì chị sợ ông Bằng buồn nên vội vã đi ngay. Không những thế chị còn chuẩn bị quà cho tất cả những người trong gia đình. Đó là những món quà quê giản dị nhưng đậm tình người.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Những hình ảnh, chi tiết nói lên tình cảm của mọi người trong gia đình đối với chị Hoài: - Ông Bằng sững người, xúc động khi nhìn thấy chị Hoài, ân cần hỏi thăm gia đình mới của chị. - Lý ôm chầm chị Hoài, nức nở. - Phượng reo lên, mừng rỡ nắm tay chị Hoài, mắt ngấn lệ khi thấy đôi gót chân nứt nẻ của chị Hoài. - Mọi người dồn dập hỏi thăm sức khỏe, gia đình và những công việc thường ngày. Mọi người rất yêu thương và tôn trọng chị, vẫn coi chị là chị dâu cả trong nhà. Mọi người trong gia đình đều rất quý mến, yêu thương và tôn trọng Hoài. Điều đó thể hiện qua rất nhiều chi tiết: - Lý và Phượng ao ước được gặp Hoài - Nghe chị Hoài đến, Đông, Lý, Luận hấp tấp từ phòng khách ùa ra - Mọi người tôn trọng cuộc sống mới của chị, không trách móc, oán than khi chị tái hôn - Phượng sôi nổi xách đồ cho Hoài, trong khi Lý thì ôm chầm lấy chị - Mọi người xúm lại hỏi thăm chị - Ông Bằng viết thư cho chị Hoài - Ông Bằng xúc động khi nhìn thấy chị Hoài.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Câu 5 Trả lời Câu hỏi 5 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Phân tích thái độ, tình cảm của các nhân vật trong cảnh thắp hương ngày Tết. Từ đó, bạn có suy nghĩ gì về truyền thống văn hóa của người Việt Nam? Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 Bữa cúng tất niên trong gia đình ông Bằng rõ ràng là còn phản chiếu nhiều nét đẹp chung của truyền thống dân tộc. Nét đẹp đó hiện ra trên cả bình diện vật chất lẫn tinh thần. Lễ cúng bài bản, trang trọng theo đúng nghi thức với khói trầm ngát thơm, bánh chưng xanh buộc lạt điều, mâm ngũ quả, những chén rượu xinh xắn rải ngang trước bàn thờ, ngọn đèn dầu lim dim,... Có sự thành kính nghiêm cẩn, thiêng liêng một dòng chảy mơ hồ mà xao động đến rưng rưng cảm động. Đó là thời khắc giao hoà giữa hai thế giới: quá khứ và hiện tại, thực và ảo, sống và chết, cõi dương và cõi âm, cõi người và cõi hồn, thể xác và tâm linh,...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Thái độ, tình cảm của các nhân vật trong cảnh thắp hương ngày Tết: - Ông Bằng chỉnh lại trang phục, thành kính thắp hương khấn vái tổ tiên và những người đã mất. - Luận biến sắc khi thấy cha bỏ qua tên em trai. - Lý khéo léo chuẩn bị mâm côc, tự hào khoe biết khấn đúng bài kinh Phật. - Chị Hoài nhìn đăm đăm lên bàn thờ, thế chân ông cụ sau khi ông lui ra. Dù thời đại có thay đổi thì truyền thống văn hóa của người Việt Nam vẫn luôn tồn tại, sống mãi trong từng bữa cơm, từng câu khấn Tết, sự tưởng nhớ về những người đã mất, sự quan tâm chăm sóc của các thành viên gia đình với nhau,… Khung cảnh thắp hương diễn ra trang trọng và cũng thật đầm ấm. Bàn thờ gia tiên nghi ngút khói hương cùng mâm cỗ thịnh soạn với các món truyền thống của người Hà Nội như: bánh chưng, nem rán, giò chả, gà tần hạt sen,... đã gợi lên ở người đọc không khí đầm ấm chỉ có ở đêm 30 Tết: - Mọi người đều trở về, cùng nhau thành kính mỗi người chuẩn bị một việc cho buổi cúng Tết - Ông Bằng nghiêm trang, trang phục chỉnh tề đứng trước bàn thờ chủ trì buổi lễ. Đây chính là khung cảnh của buổi lễ Tết của người Hà Nội xưa. - Lời khấn của ông Bằng như một lời tưởng nhớ với những người đã mất như tổ tiên, ông bà,...một cách thiêng liêng và thành kính nhất. - Đây như sự giao lưu giữa hai thế hệ, dù dòng chảy thời gian không bao giờ ngừng nhưng luôn có sự kế nhiệm những truyền thống tốt đẹp với nhau
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Câu 6 Trả lời Câu hỏi 6 trang 48 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Xác định thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc. Theo bạn, những giá trị tinh thần mà văn bản đề cao có cần được tiếp tục gìn giữ không? Vì sao? Phương pháp giải: Đọc văn bản để trả lời câu hỏi Lời giải chi tiết: Cách 1 Văn bản có thể đề cao giá trị tinh thần của sự hiểu biết, lòng nhân ái và sự đồng cảm. Bằng cách miêu tả cảnh vật và cảm xúc của nhân vật, tác giả có thể khích lệ độc giả suy nghĩ về những giá trị tinh thần đó. Ngoài ra văn bản còn đề cập đến giá trị tinh thần về việc thờ cúng tổ tiên. Những giá trị tinh thần này cần được tiếp tục gìn giữ vì chúng là nền tảng của một xã hội nhân văn và cảm thông. Sự hiểu biết, lòng nhân ái và sự đồng cảm giúp tạo nên môi trường tốt hơn cho tất cả mọi người. Trong cuộc sống hiện đại, nơi mà sự đau khổ và mất mát có thể dễ dàng bị lãng quên, việc giữ gìn những giá trị này trở nên vô cùng quan trọng để xây dựng một cộng đồng đầy tình yêu thương và chia sẻ.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm: Cần phải bảo vệ những giá trị truyền thống về văn hóa gia đình trước những biến chuyển của thời cuộc. Thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc: khuyên mọi người hãy trân trọng những giá trị truyền thống, những nét văn hóa, phong tục phẩm chất con người Hà Nội xưa. Theo em, những giá trị tinh thần mà văn bản đề cao luôn cần được tiếp tục gìn giữ và phát huy. Bởi lẽ, nó là một phần không thể thiếu của văn hóa dân tộc, là một phần nét đẹp của cốt cách con người Việt Nam. Gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần ấy là một cách để thể hiện lòng yêu nước.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Ngày 30 tết (Ma Văn Kháng)
+
Ngày 30 tết (trích Mùa lá rụng trong vườn) Cầu được, ước thấy. Người phụ nữ mà Lý và Phượng cùng ao ước hiện ra, thật như đã hiện ra ngay trước cổng nhà, vào đúng lúc cả nhà đang tíu tít vào buổi cúng tất niên chiều ba mươi Tết. Nghe tiếng chuông diện, Phượng chạy ra cửa. Trước hai cánh cổng sắt là một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bông trần hạt lựu. Chiếc khăn len nâu thắt ôm một khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi. Người phụ nữ đó đeo một cái tay nải nặng, dáng vừa đi bộ từ ga xe lửa về, không có cái vẻ ngác ngơ lạ lẫm, nhung hai con mắt đậm nỗi bồi hồi. Phượng kéo cánh cửa sắt, dè dặt: – Bác... bác hỏi ai ạ? A, có phải bác là... là chị Hoài không ạ? – Cô Phượng đấy như Phượng quay ngoắt về sau, reo to: – Chị Hoài! Chị Hoài lên, anh Đông, chị Lý, anh Luận ơi! Sự việc diễn ra quá ư đột ngột! Đông, Lý, Luận hấp tấp từ phòng khách ùa ra vật đường lát xi măng đi qua vườn cây ra cổng, nhìn thấy chị Hoài thật rồi mà vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác, nửa tin nửa ngờ. Chị Hoài lên! Lên đúng chiều ba mươi Tết! Thật ngoài sức tưởng tượng! Trong tâm ức vẫn là có hình bóng chị Hoài, chị Hoài, vợ anh cả Tường liệt sĩ. Chị Hoài, dâu trưởng, nết na, thuỳ mị. Trong tiềm thức vẫn sống động một chị Hoài dẹp người, đẹp nết. Nhưng bây giờ chị Hoài đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan riêng, nên vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị đấy, mà lại không dám, không nỡ níu kéo chị về mình. Quan hệ của chị ở gia đình này đã thuộc về quá khứ. Kỉ niệm của chị ở đây đẹp nhưng buồn. Chị có quyền quên mà không ai được trách cứ. Phượng sôi nổi, nồng hậu: – Em mừng quá, chị Hoài ơi. Để em xách tay nải cho. Lý ôm chầm người phụ nữ dã một thời là dâu trưởng, nức nở: – Đúng là có linh tính nhé. Chị xem lời em nói có thiêng không? Em vừa nói: Ước gì chị Hoài hiện ra bây giờ nhỉ! – Hơn chục năm nay chị Hoài chưa lên Hà Nội rồi đẩy. – Luận nói. – Làm gì! Đám cưới chú và cô Phượng chị còn lên dự cơ mà. Mới có chín năm thôi. Bận quá. Nhà nông chẳng bao giờ hết việc. Ông đâu? Luận ra vẻ thành thạo: – Tháng này đã cấy đâu chị? Ông ở trên nhà, có lẽ sắp xuống đấy. - Dưng mà còn rỡ khoai tây. Còn họp Đại hội. Định di từ sớm kia, mà công kia việc nọ cứ dồn tới. - – Cứ vứt toạch công việc một chỗ đã chị ạ – Lý thêm, hai mắt tít lại – Đòi người chỉ những lo cùng lo có chết! - Ông có khoẻ không, hai cô? -Ông không khoẻ lắm, chị a – Phượng dáp, chưa hết mừng rỡ – Cặp chị ở ngoài đường không chắc em đã nhận ra được đâu. Hôm cuối em, chị mặc áo vét như cán bộ kia. Luận đi cạnh Hoài, nghiêng nghiêng đầu: – Thì chị vẫn là chủ nhiệm chủ, chị Hoài? Người phụ nữ cười: – Vẫn, nhưng tôi chuyển sang làm chủ nhiệm hợp tác xã đan dệt thảm ngô rồi. Đây, cái bãi soi hồi chú về chơi, đi thuyền ra, xem chọi trâu ấy, giờ bạt ngàn là ngô! À, cô Phượng được chuyển công tác về dưới này rồi nhỉ. Thôi thế cũng mừng. Rồi lo cho bà, cho cháu về dẫn cô ạ. Phượng nắm tay chị Hoài: – Sao chị biết em chuyển công tác về dưới này? - Ông viết thư cho tôi. Ông kể hết. Cả chuyện cậu Cừ. Thế nên tôi mới sốt ruột, phải lên ngay. Tôi sợ ông buồn. Đưa mắt nhìn Phượng, Luận nhận ra Phượng buột khỏi tay chị Hoài. Phượng cúi mắt chớp chớp vì một cảm kích bất ngờ. Người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này. Luận đi tụt lại phía sau cùng Phượng, anh muốn gần gũi Phương trong mới đồng cảm này. Phía trước, ly kéo tay chỉ Hoài, vui về qua mua cùng Đông đưa chị vào phòng khách. Trong phòng khách đã bày cỗ cúng. Đông súc ấm, pha trà, Lý sà xuống tay nải cùng chị Hoài. – Chẳng mang được cái gì lên dâu. – Chị Hoài xởi lởi. – Cái Ngoan, thằng Tùng cứ nhét vào, rồi giục: Mẹ đi đi, không ông buồn, các chú, các cô mong! Dây là gạo nếp tăng sản của nhà. Cái giò thủ anh ấy gói đây. Ông thích ăn giò thủ lắm đấy, cô Lý ạ. Còn bọc này là sắn dây. Trẻ con nó giã, nó rây đấy. À cái giống mướp hương này thơm ngon mà to quả lắm. Cô Phượng cất đi mà gieo. Gieo đêm nay là tốt nhất dãy. Ở nhà, trồng bờ ao, có quả hai cân bảy kia. Ở, cho nó leo bờ tưởng. À, ông thợ mộc còn đấy không? Mấy con rồi? Chú Đông tóc bạc nhưng vẫn khoẻ nhỉ! Cháu Du có hay gửi thư về không? Cô Lý trộng không nhận ra được nữa. Trẻ như gái mười tám ấy! Lý tít mắt, hai má hây hây: - Ông Đông sắp thành ông Di Lặc rồi, chị ạ. Còn em... bệnh đấy chị ơi... Cầu thang có tiếng ba toong' chống lịch kịch. Phượng và Luận chạy ra chân cầu thang. Ông Bằng đã xuống hết bậc. Đã đến lúc phải xuống để cúng, cũng là lúc ông nghe thấy xôn xao tin chị Hoài lên. Ông cố đi cho ngay ngắn. Trông ông cao, gầy hơn mọi ngày, nhưng trang trọng, chỉnh tề hơn, mặc dầu vẫn là bộ com-lê đen, kẻ sọc mở, cài khuy chéo. Có lẽ do gương mặt ông ánh lên cái cảm xúc của con người trước ngưỡng của của năm mới, do con mắt đã qua khỏi căn bệnh, sáng dậy, át đi vẻ già nua, tàn lụi và nỗi ưu tư còn ghi vết ở trên trán, và nếp da xệ ở hai bên cằm. Ông sững lại khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn. Rồi mắt ông chóp liên hồi, môi ông lật bật không thành tiếng, có cảm giác ông sắp khóc oà. Hoài gần như không chủ động được mình, chị lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản, gót nứt nẻ thâm đen, giẫm trên nền đá lạnh, kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa. - Ông Người phụ nữ thốt lên một tiếng như tiếng nấc. Và giọng ông Bằng bỗng khê đặc, khăn rè: – Hoài đấy ư, con? Phượng quay mặt đi, mắt ngấn lệ không nỡ nhìn cảnh gặp gỡ, không nỡ thấy đội gót chân nứt nẻ của chị Hoài, ngực dội lên những con sóng nghẹn ngào và hai cánh mũi se se cay. Cảnh gặp gỡ vui mừng nhiễm một nỗi tiếc thương, đau buồn, ê nhức cả tim gan. Ông Bằng nén xúc động, rút khăn tay, chấm kẽ mắt: – Anh ấy và các cháu vẫn khoẻ cả chứ, con? – Thưa ông, bốn cháu của con nhờ trời vẫn khoẻ mạnh cả. Cháu đầu đi bộ đội đóng ở biên giới Hà Tuyên vừa rồi hết nghĩa vụ, về xã tham gia sản xuất. Cháu thứ hai học lớp mười. Cháu gái thứ ba học lớp tám. Cháu trai út học lớp sáu. Nhà con, cảm ơn ông, vẫn được bình thường. Anh ấy giờ tham gia Uỷ ban xã. Lẽ ra, anh ấy thu xếp công việc được cũng lên kính thăm ông dịp này. Cả các cháu nữa, bốn đứa, đứa nào cũng đòi đi. Nhất là thắng lớn, nó cứ bảo mấy lần nó qua Hà Nội mà chưa được vào nhà thăm ông lần này rỗi rãi nó phải đi... Câu chuyện của người phụ nữ nông thôn có cái vẻ kể cả đã đưa cuộc gặp gỡ ra khỏi những chấn động tình cảm bất thường. Và Lý đã hí húi xếp xong mâm cúng, nhảy từ cái ghế đẩu xuống, xoa xoa hai bàn tay rất ý tứ trước ông Bằng: – Ông ạ, con đề nghị thế này, hàn huyên còn nhiều chuyện, để lát nữa tha hồ. Giờ, mời ông lại khẩn cho lễ cúng gia tiên bắt đầu ạ. Mọi người dạt ra, để trống một khoảng rộng trước bàn thờ. Ông Bằng soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cái cà vạt, họ khan một tiếng, dịch chân lại trước mặt bàn thờ, Hương cháy, uốn cong một đoạn tàn, bốc toả một làn khói ảo mờ. Hai cái bánh chưng bọc lá xanh tươi, buộc lạt điều, xếp cạnh mâm ngũ quả và những chén rượu xinh xắn đặt rải hàng ngang trước bệ thờ. Ngọn đèn dầu lim dim in cái chấm vàng vào dãy khung ảnh đặt sát tường. Ảnh song thân ở chính giữa; bên trái, ảnh bà Bằng mặt hoa da phấn, tóc vấn khăn nhung; phía phải, ảnh anh cả Tường áo trấn thủ ô quả trám, mũ ca lộ nghiêng, nét trắng đen đã phôi pha. Ngước mái đầu hội, diềm tóc lơ thơ đã bạc hết, ông Bằng chắp hai tay trước ngực. Khói hương và khung cảnh trầm tĩnh đua hiện tại về quá khứ. Thoáng cái, ông Bằng như quên hết xung quanh và bản thể. Dâng lên trong ông cái cảm xúc thiêng liêng rất đỗi quen thân và tâm trí ông bỗng mờ nhoè, phiêu diêu lãng dàng gần xa, ẩn hiện tầng tầng lớp lớp những ảnh hình khi tỏ khi mờ, chập chờn như trong chiêm bao. Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vẫn hằng sống cùng con cháu. Con vẫn văng vẳng nghe đâu đây lời giáo huấn của ông cha, tiên tổ. Con vẫn đinh ninh ghi khắc công ơn sinh thành dưỡng dục của thầy mẹ, gia tộc, ông bà, cha mẹ, tổ tiên, con như thấy từ trong tâm linh, huyết mạch sự sinh sôi nảy nở, phúc thọ an khang" của cháu con đời đời nối tiếp trong cộng đồng dân tộc yêu thương, Và em, cùng con trai cả của ba mẹ. Em cùng con đã mất và vẫn hằng sống, hằng vui buồn, chia sẻ, dỡ nâng dắt dìu tôi cùng các cháu, các con, các em,... Trong giây lát, nhập vào dòng xúc động tri ân tiên tổ và những người đã khuất, ông Bằng lâng lâng trong những hoài niệm hư ảo, thoát trần. Nhưng, ông chỉ ở trong dòng tình cảm trôi lững lờ đó trong giây phút. Quá khứ không cắt rời với hiện tại. Tổ tiên không tách rời với con cháu. Tất cả liên kết thành một mạch bền chặt thuỷ chung. Bởi vậy, ông lại trở về với những ngày đang sống, với những người đang sống. Mắt ông bỗng cay xẻ. Lòng ông lại bồn ngộn". Và ông vội cúi xuống, bật trên đôi môi những lời cầu khẩn thành kính và run rẩy: – Hôm nay, ngày ba mươi tháng Chạp năm Bính Tuất, buổi tất niên, con cùng các nam tử, nữ tử, tôn tử,... Rồi theo lời cha, Luận bỗng bấm tay Đông. Mặt Luận biến sắc. Rõ ràng là khi kể tên các con trai, ông cụ đã bỏ qua tên thằng Cù. Lý ngọ nguậy không yên, lát sau, ghé tai chị Hoài, hí hửng: “Chị ơi, em biết khẩn đúng bài kinh nhà Phật cơ”. Mắt chị Hoài đăm đắm ngược lên bàn thờ. Và khi ông Bằng vừa buông tay chắp, rút mùi xoa lau mắt, lui ra, chị liền thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực. Thật là một mâm cỗ quá ư thịnh soạn vào cái thời buổi đất nước còn rất nhiều khó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh và so với đồng lương có hạn của cán bộ, công nhân viên chức lúc này. Tràn trẻ trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lý cố tình để sát vào mâm cỗ cho bữa ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, súp lơ xào thịt bò,... - món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây,... Đặc sắc nhất, mà có lẽ Lý muốn bộc lộ khiếu năng, cùng tấm lòng mình nhiều nhất ở đó, là các món vịt tần, vây và mọc, nhất là món mọc. Chị đã rất tỉ mỉ và kĩ tính hết sức khi chế biến món này. Miếng thăn được chọn lựa, giã thật nhuyễn nhừ thay cho giò sống được chính tay chị trộn với mộc nhĩ, nấm hương, rồi nặn thành từng viên tròn trĩnh. Nồi nước dùng đảm bảo phải trong veo. Và chính tay chị vợt, chia đều ra từng bát nhỏ. Mọi người vào mâm, hân hoan khác thường. (In trong Mùa lá rụng trong vườn, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985, tr. 73 – 81)
- Thu gọn
|







Danh sách bình luận