Soạn bài Hịch tướng sĩ SGK Ngữ văn 8 tập 1 Cánh diều - siêu ngắnĐọc trước văn bản Hịch tướng sĩ. Xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử khi bài hịch ra đời và ghi chép lại những thông tin về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giúp cho việc đọc hiểu văn bản này. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Chuẩn bị 1 Câu 1 (trang 109, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Đọc trước văn bản Hịch tướng sĩ. Xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử khi bài hịch ra đời và ghi chép lại những thông tin về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giúp cho việc đọc hiểu văn bản này. Phương pháp giải: Xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu bối cảnh lịch sử khi bài hịch ra đời và ghi chép lại những thông tin về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Lời giải chi tiết: - Bối cảnh sáng tác: Được viết vào khoảng thời gian trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai (1285) - Trần Quốc Tuấn (1231-1300) còn được gọi là Hưng Đạo Đại Vương, là danh tướng kiệt xuất của dân tộc, lập nhiều chiến công lớn: 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông Chuẩn bị 2 Câu 2 (trang 110, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Xác định được luận cứ, luận điểm; phân biệt được lí lẽ và bằng chứng khách quan với ý kiến, đánh giá chủ quan của người viết. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết:
Chuẩn bị 3 Câu 3 (trang 110, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng; chú ý yếu tố biểu cảm được bộc lộ chủ yếu qua ngôn từ, giọng điệu lập luận, cách thể hiện quan điểm, tình cảm, thái độ của tác giả nhằm thuyết phục người đọc. Phương pháp giải: Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng Lời giải chi tiết: - Lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, giàu hình ảnh, có sức thuyết phục cao - Kết hợp hài hòa giữa lí trí và tình cảm - Lời văn giàu hình ảnh nhạc điệu Đọc hiểu 1 Câu 1 (trang 111, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Nội dung chính của phần (2) là gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc. Đọc hiểu 2 Câu 2 (trang 112, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những thái độ, hành động nào bị tác giả phê phán? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: Hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước, ham thú vui tầm thường Đọc hiểu 3 Câu 3 (trang 112, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Việc nêu lên hậu quả nhằm mục đích gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Muốn các tướng sĩ quyết tâm tiêu diệt giặc, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng. Đọc hiểu 4 Câu 4 (trang 113, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những vấn đề nào được nêu lên ở đoạn cuối phần (3)? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn Lời giải chi tiết: - Vấn đề nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. - Khích lệ binh sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược - Kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm. Đọc hiểu 5 Câu 5 (trang 113, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Câu hỏi “Vì sao vậy?” nhằm giải thích cho điều gì? Phương pháp giải: Trả lời theo ý hiểu Lời giải chi tiết: Nhằm mở đầu cho việc Trần Quốc Tuấn giải thích lí do việc phải làm ở đoạn văn đầu tiên của phần 4. CH cuối bài 1 Câu 1 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Xác định mục đích và đối tượng thuyết phục của bài Hịch tướng sĩ. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: - Mục đích: phê phán tinh thần mất cảnh giác của tướng sĩ đồng thời khích lệ tinh thần chiến đấu của họ. - Đối tượng thuyết phục: các tướng sĩ. CH cuối bài 2 Câu 2 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Trình bày bố cục của bài hịch, cho biết luận điểm của từng phần và mối quan hệ của mỗi phần với mục đích của bài hịch. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: - Bài hịch bố cục thành 4 phần: + Phần 1: Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước. + Phần 2: Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc. + Phần 3: Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai trong lối sống, trong hành động của các tướng sĩ. + Phần 4: Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ. - Giữa các luận điểm có mối quan hệ chặt chẽ nhằm một mục đích chung là khích lệ tướng sĩ. CH cuối bài 3 Câu 3 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Tác giả bài hịch đưa ra những tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách và đương thời nhằm mục đích gì? Các tấm gương đó có điểm chung nào? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: - Mục đích: Khơi gợi tinh thần yêu nước, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ. - Điểm chung: đều là những vị anh hùng yêu nước, trung thành với chủ tướng. CH cuối bài 4 Câu 4 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hãy chỉ ra những lí lẽ, bằng chứng về thái độ của sứ giặc mà tác giả đã nêu lên trong bài hịch. Đoạn văn tố cáo kẻ thù đó sẽ tác động đến tình cảm của tướng sĩ như thế nào? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: - Sự ngang ngược và tội ác của giặc: “Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu vàng bạc, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau!” -Tác động đến lòng căm thù giặc, khích lệ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của tướng sĩ. CH cuối bài 5 Câu 5 (trang 114, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Những câu văn nào trong bài hịch thể hiện tấm lòng của người chủ tướng? Theo em, những câu văn ấy có tác động như thế nào đối với người đọc, người nghe? Qua đó, em có nhận xét gì về con người Trần Quốc Tuấn? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: - Tấm lòng của người chủ tướng: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng." - Tác động rất lớn, khiến người nghe cảm nhận được hào khí của một bậc tướng tài, kích thích ý chí chiến đấu của binh sĩ. - Trần Quốc Tuấn là một vị anh hùng yêu nước giàu nghĩa khí. CH cuối bài 6 Câu 6 (trang 115, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Theo em, nội dung bài hịch có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống hôm nay? Phương pháp giải: Đọc văn bản và nêu ý nghĩa Lời giải chi tiết: Nội dung bài hịch có ý nghĩa như một lời răn dạy cho tới ngày nay. CH cuối bài 7 Câu 7 (trang 115, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Từ bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, em học được gì về cách viết bài văn nghị luận nhằm thuyết phục người khác? Phương pháp giải: Từ bài hịch rút ra kinh nghiệm viết văn cho bản thân Lời giải chi tiết: - Lập luận, lí lẽ và dẫn chứng là các yếu tố vô cùng quan trọng. - Lập luận, lí lẽ cần mạch lạc rõ ràng, dẫn chứng phải tiêu biểu, giàu sức thuyết phục.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)
+
HỊCH TƯỚNG SĨ (Dự chư tì tướng hịch văn – Trần Quốc Tuấn) Ta thường nghe: Ký Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng trai tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được! Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây. Vương Công Kiên là người thế nào, tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào, mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đường đường chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào, tì tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt! Huống chi ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau! Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thi ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì. Nay các người nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoe khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không? Nay ta bảo thật các ngươi nên nhớ câu: “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mã vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không? Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù. Vì sao vậy? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Ta viết ra bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận