Soạn bài Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? SGK Ngữ văn 8 tập 1 Cánh diều - siêu ngắn

Đọc trước văn bản Nước Đại Việt ta nhỏ hay không nhỏ?; xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Dương Trung Quốc và diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không cho?” giúp cho việc đọc hiểu văn bản này.

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Văn bản nghị luận hiện đại này nêu lên vấn đề: Làm thế nào để đất nước Việt Nam mãi trường tồn và phát triển ngày một lớn mạnh?

 

Chuẩn bị

(trang 120, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Đọc trước văn bản Nước Đại Việt ta nhỏ hay không nhỏ?; xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Dương Trung Quốc và diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không cho?” giúp cho việc đọc hiểu văn bản này

Phương pháp giải:

Xem lại phần Kiến thức ngữ văn, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Dương Trung Quốc và diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?” 

Lời giải chi tiết:

Tác giả Dương Trung Quốc (1947), quê tại Bến Tre

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 1

Câu 1 (trang 120, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Vì sao tác giả nhắc tới Đại cáo bình Ngô, đưa ra nhận định và hành động của các nhân vật lịch sử?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Dẫn dắt vào nội dung chính của bài viết.

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 2

Câu 2 (trang 120, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Tác giả nhắc tới những câu chuyện lịch sử này nhằm mục đích gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Mục đích: đưa ra dẫn chứng khẳng định nước Việt Nam ta là một quốc gia đáng tự hào từ rất lâu về trước.

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 3

Câu 3 (trang 121, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Tác giả bài viết đặt ra vấn đề gì trong phần (3)?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ 3

Lời giải chi tiết:

Vấn đề: Vì sao có nhiều người so sánh công cuộc 20 năm đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn với những chiến công của lịch sử giữ nước, cuối cùng vẫn không giúp nước ta tránh được nguy cơ tụt hậu?

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 4

Câu 4 (trang 122, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Vị Đại tướng đó là ai và ông nhắc nhở chuyện gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn bản

Lời giải chi tiết:

- Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

- Ông nhắc nhở: “Có một thế hệ hằng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chí rửa sạch nỗi nhục mất nước.”

Xem thêm cách soạn khác

Đọc hiểu 5

Câu 5 (trang 122, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Em hiểu “quốc danh” là gì? Cho một vài ví dụ.

Phương pháp giải:

Trả lời theo ý hiểu

Lời giải chi tiết:

- “Quốc danh” là tên gọi của quốc gia.

- Ví dụ: Đại Việt, Văn Lang, Âu Lạc...

Xem thêm cách soạn khác

CH cuối bài 1

Câu 1 (trang 123, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Em hiểu nhan đề văn bản Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? như thế nào? Hãy xác định luận đề và các luận điểm của bài viết.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản và trả lời theo ý hiểu

Lời giải chi tiết:

Nhan đề

Đặt ra câu hỏi với người đọc về việc Việt Nam ta là một quốc gia giàu mạnh hay yếu kém, phát triển hay không phát triển. Nội dung của bài sẽ trả lời cho câu hỏi này

Luận đề

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?

Luận điểm

- Luận điểm 1: Sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào dân tộc.

- Luận điểm 2: Dân tộc ta đã chứng minh cho thế giới thấy sức mạnh của mình thông qua các cuộc chiến bảo vệ đất nước.

- Luận điểm 3: Nguyên nhân dẫn đến nguy cơ thụt lùi của đất nước.

- Luận điểm 4: Tâm thế lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử.

Xem thêm cách soạn khác

CH cuối bài 2

Câu 2 (trang 123, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Phần (1) và 2 của bài viết nhắc lại lịch sử nhằm mục đích gì? Đâu là điều đã tạo nên sức mạnh dân tộc trong những giai đoạn lịch sử quan trọng?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 1, 2

Lời giải chi tiết:

- Mục đích: chứng minh dân tộc ta anh hùng, một đất nước giàu truyền thống, văn hóa, người Việt Nam đi đâu cũng có quyền tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc.

- Điều đã tạo nên sức mạnh của một dân tộc trong những giai đoạn lịch sử quan trọng là niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

Xem thêm cách soạn khác

CH cuối bài 3

Câu 3 (trang 123, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Theo tác giả bài nghị luận, những nguyên nhân nào dẫn tới sự tụt hậu của đất nước trong thời kì mới? Dẫn ra ý kiến chủ quan của người viết và các lí lẽ, bằng chứng khách quan (có thể kiểm chứng được) trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Nguyên nhân

- Chiến tranh tàn phá của cải vật chất, để lại những tổn thất nặng nề.

- Nếp nghĩ và hành xử của con người.

Ý kiến chủ quan

“Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu, vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên, trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.”

Lí lẽ

- Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng ... chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình,...

- .... nếu chỉ bỏ mình bỏ mình trong những ước muốn chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như.... hành xử."

Bằng chứng khách quan

- Lời nhắc nhở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

- Hai doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa...

Xem thêm cách soạn khác

CH cuối bài 4

Câu 4 (trang 123, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Vấn đề tác giả đặt ra trong bài viết có ý nghĩa như thế nào đối với thế hệ trẻ hiện nay? Theo em, làm thế nào để có thể thoát khỏi tâm lí và cách hành xử tự ti của “một nước nhỏ”?

Phương pháp giải:

Trả lời theo ý hiểu

Lời giải chi tiết:

- Vấn đề trong văn bản là một thực trạng đáng buồn của giới trẻ hiện nay.

- Cần có lòng tự tôn dân tộc và tự hào về những truyền thống quý báu của đất nước mình.

Xem thêm cách soạn khác

CH cuối bài 5

Câu 5 (trang 123, SGK Ngữ văn 8, tập 1)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) trình bày quan điểm của em về vấn đề “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?”.

Phương pháp giải:

Viết đoạn văn theo yêu cầu

Lời giải chi tiết:

Đất nước ta tuy là một đất nước nhỏ nhưng lại có riêng cho dân tộc mình những truyền thống quý báu. Nước chúng ta có thể nhỏ về diện tích nhưng tinh thần và lòng yêu nước của ta chưa bao giờ nhỏ. Đất nước ta đang trên đà phát triển tuy còn nhiều khó khăn nhưng từng ngày từng giờ những công dân Việt Nam vẫn luôn nỗ lực, cố gắng xây dựng đất nước giàu đẹp. Tuy chưa thể so sánh với các quốc gia hiện đại trên thế giới, song bằng tinh thần và ý chí nghị lực, con người Việt Nam đã và đang trên con đường hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước. Chúng ta nên có cho mình lòng tự tôn, tự hào dân tộc và nỗ lực xây dựng đất nước phát triển hơn trong tương lai.

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?
+

NƯỚC VIỆT NAM TA NHỎ HAY KHÔNG NHỎ?

(Dương Trung Quốc)

[...] Hãy đọc lại Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi:

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xung nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên mỗi bên xưng để một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Nhà bác học Lê Quý Đôn khi viết về dân tộc của mình luôn nói tới niềm tự hào “Nước Nam ta nổi tiếng là văn hiến...”, “văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc”.

Ngô Thì Nhậm đi sứ phương Bắc, lúc trở về làm bài thơ Hoản nhĩ ngâm (Mim cười mà ngâm ngợi) thốt lên niềm tự hào: “May mắn thay! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam... chớ bảo rằng ta kém văn minh...”. Phan Thanh Giản đi sứ Tây kinh", tàu đến một cảng biển ngoại quốc, theo thông lệ phải giương Quốc kì của sứ đoàn, Phan bèn lấy tấm lụa rồi dùng son mà viết hai chữ lớn “Đại Nam” treo lên mũi tàu mà biểu trưng niềm tự hào dân tộc nơi đất khách quê người....

Những chuyện như thế trong sử sách nhiều lắm. Không có niềm tự hào ấy, chúng ta không tồn tại được. Chính sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào đó.

Ngót trăm năm đô hộ của thực dân Pháp là một nỗi nhục lớn của dân tộc Việt Nam sau hơn một thiên niên kỉ tự chủ, hơn mười lần đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Đến thế kỉ XIX, chỉ vài trăm tên lính đánh thuê đã hạ nổi thành Hà Nội, nơi có những người anh hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu cầm quân. Những người anh hùng đó đã phải tự vẫn cho khỏi thẹn với núi sông. Những bài học trên ghế học trò "Tổ tiên ta là người Gô-loa (Gaulois)" mà thực dân nhồi sọ, thảm cảnh của những người cu li Việt phải tha phương cầu thực ở những đồn điền hải ngoại và của những trai tráng người Việt sang làm bia đỡ đạn bên trời Âu trong hai cuộc đại chiến cũng như sự khốn cùng của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến... đã dồn nén lòng tự ái dân tộc thành một sức mạnh phi thường khi có được ngọn cờ tụ nghĩa. Từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học,... đến Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều thấm cái nỗi nhục mất nước để tạo nên sức vùng dậy của cả một dân tộc giành quyền làm chủ của mình.

Dân tộc ấy đã công khai tuyên bố quyền tự chủ của mình trên những nguyên lí phổ quát của nhân loại. Và dân tộc ấy đã tự chứng minh sức mạnh của mình bằng ba cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn bốn thập kỉ với biết bao nhiêu xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn mà có người còn sánh với những chiến công của lịch sử giữ nước, cuối cùng, vẫn không giúp chúng ta tránh được nguy cơ tụt hậu? Ai cũng biết giữ được mức tăng GDP thuộc loại nhất nhì khu vực, đặc biệt là giữ được sự ổn định về an ninh là một cố gắng rất lớn. Nhưng mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa vời. Phải tìm cho ra những lí do của sự tụt hậu mới mong thoát được nguy cơ tụt hậu.

Đương nhiên, chiến tranh luôn được viện dẫn làm lí do hàng đầu. Chiến tranh tàn phá của cải vật chất, để lại những hậu quả rất nặng nề. Chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất mát, kể cả những di chứng lâu dài cho con người... Những lí do ấy đều thấy được, cân đong đo đếm được và trên thực tế, ta đã có nhiều thập kỉ khắc phục. Nhưng còn có một lí do mà không phải là khó thấy. Đó chính là nếp nghĩ và hành xử. [...]

Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu, vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên, trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.

Lại nhớ đến điều mà vị Đại tướng góp phần đánh thắng hai đế quốc to nhắc nhớ. “Có một thế hệ hằng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chỉ rửa sạch nỗi nhục mất nước.". Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng với dự báo thời tiết, chúng ta công bố thứ hạng về trình độ phát triển cùng những món tiền nợ nước ngoài để thẩm được cải nỗi nhục tụt hậu, chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình...

Tôi đã gặp hai con người, hai nhà doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa. [...] Hỏi vì sao lại đặt tên như vậy, cả hai đều nhắc đến tâm thế của người xưa về niềm tự hào dân tộc, rằng chính vì niềm tự hào ấy mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ chúng ta cả một cơ đồ, một giang sơn gấm vóc. Cả hai đều chất vấn tôi bằng một câu hỏi: “Vậy thì Việt Nam có phải là một nước nhỏ hay không?”. Và cả hai đều cho rằng, nếu tâm thể của ta nhỏ thì nước ta thành nước nhỏ, nếu chỉ bỏ mình trong những ước vọng chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như tâm thế ta lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử.

Viết bài báo này, tôi cũng muốn bạn đọc cùng chia sẻ với câu hỏi sâu sắc: “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?”.

(Theo báo Thanh Niên, ngày 26-3-2006)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close