Soạn bài Người mẹ vườn cau SGK Ngữ văn 8 tập 1 Cánh diều - siêu ngắnĐọc trước văn bản Người mẹ vườn cau, tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Chuẩn bị 1 Câu 1 (trang 25, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Đọc trước văn bản Người mẹ vườn cau, tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Phương pháp giải: Tìm hiểu thông tin về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Lời giải chi tiết: Nguyễn Ngọc Tư (1976), sinh ra trong một gia đình nông dân tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Là một nhà văn, thành viên Hội nhà văn Việt Nam Chuẩn bị 2 Câu 2 (trang 25, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hãy nhớ lại một tác phẩm viết về người mẹ, người bà có chủ đề gần với văn bản này để giới thiệu với các bạn. Phương pháp giải: Tìm hiểu, nhớ lại một tác phẩm viết về mẹ. Lời giải chi tiết: Một tác phẩm viết về người mẹ: À ơi tay mẹ Đọc hiểu 1 Câu 1 (trang 26, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Nhận biết các từ là trợ từ, thán từ trong văn bản Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản, vận dụng kiến thức về trợ từ, thán từ Lời giải chi tiết: Trợ từ: là, Thán từ: Ôi dào Đọc hiểu 2 Câu 2 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Phần (3) đã gợi mở những vấn đề gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ phần (3) Lời giải chi tiết: Sự thờ ơ với mẹ, tất cả những công lao của mẹ không thể chỉ viết trong vài dòng là đủ. CH cuối bài 1 Câu 1 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Truyện ngắn trên viết về đề tài gì? Giải thích nhan đề Người mẹ vườn cau. Phương pháp giải: Đọc văn bản và trả lời câu hỏi. Lời giải chi tiết: - Đề tài: Biết ơn mẹ Việt Nam anh hùng. - Nhan đề: Người mẹ vườn cau chỉ người mẹ có công với cách mạng, đã hy sinh con cái của mình cho Tổ quốc, người mẹ ấy không có tên mà chỉ được gọi theo nơi ở bởi lẽ trên dải đất hình chữ S này vẫn còn rất nhiều mẹ Việt Nam anh hùng. CH cuối bài 2 Câu 2 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Theo em, chủ đề của truyện ngắn Người mẹ vườn cau là gì? Phương pháp giải: Đọc văn bản tóm lược chủ đề Lời giải chi tiết: Chủ đề: Lòng biết ơn, đền ơn đáp nghĩa. CH cuối bài 3 Câu 3 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Ngôi kể ấy có tác dụng như thế nào? Phương pháp giải: Đọc truyện và trả lời câu hỏi. Lời giải chi tiết: Ngôi kể thứ nhất cho thấy cái nhìn và cảm nhận chủ quan của nhân vật tôi về sự việc trong truyện CH cuối bài 4 Câu 4 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Cốt truyện của văn bản Người mẹ vườn cau có gì đáng chú ý? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Cốt truyện tựa như dòng suy nghĩ của những đứa trẻ, không thống nhất theo một trình tự nào, mượn câu chuyện có thật về những người mẹ Việt Nam anh hùng để tôn vinh và thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với các mẹ. CH cuối bài 5 Câu 5 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Hình ảnh “người mẹ vườn cau” đã được tái hiện với những chi tiết tiêu biểu nào? Em ấn tượng với chi tiết nào nhất? Vì sao? Phương pháp giải: Đọc kĩ phần (1) Lời giải chi tiết: - Những chi tiết: gầy gò, cười phô cả lợi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua nheo nheo,... - Em ấn tượng với chi tiết “Đón ba, nội gầy gò, cười phô cả lợi” vì chi tiết này thể hiện niềm vui của người mẹ khi con về thăm. CH cuối bài 6 Câu 6 (trang 29, SGK Ngữ văn 8, tập 1) Có người cho rằng, qua truyện ngắn này, tác giả muốn nhắn gửi đến người đọc thông điệp về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Ý kiến của em như thế nào? (Trình bày thành đoạn văn khoảng 6 – 8 dòng). Phương pháp giải: Bày tỏ ý kiến và lí giải hợp lí Lời giải chi tiết: Qua văn bản “Người mẹ vườn cau”, tác giả Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Lòng biết ơn đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của chúng ta. Thế kỉ XX, đất nước ta phải trải qua hai cuộc chiến lớn để lại nhiều mất mát, đau thương cho con người Việt Nam. Đã có rất nhiều người hy sinh mạng sống của mình cho độc lập dân tộc trong đó còn có những người mẹ gạt nước mắt tiễn con ra trận. Khi hoà bình lập lại, con người quá mải mê với cơm áo gạo tiền mà quên đi quá khứ thế nhưng quá khứ ấy vẫn luôn vẹn nguyên, thuỷ chung giống như hình ảnh người mẹ vườn cau ngày ngày chờ đợi những cựu chiến binh đến thăm bà lúc tuổi già. Văn bản cũng là lời cảnh tỉnh với những ai đã quên đi quá khứ, chúng ta cần phải biết ơn thế hệ trước đã cho ta cuộc sống như ngày hôm nay.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Người mẹ vườn cau
+
NGƯỜI MẸ VƯỜN CAU (Nguyễn Ngọc Tư) Đề bài làm văn chỉ hai chữ “Người mẹ”. Cô Hương bảo: “Bình luận, chứng minh, hay miêu tả cách nào cũng được.”. Tôi cắn bút, nghĩ mãi bắt đầu như thế nào nhỉ? Ba tôi có rất nhiều mẹ, tôi cũng có lắm bà. Nội ở nhà cùng chú út, nội ở Phố Đông, nội ở vườn cau, nội nào cũng già như nhau. Tôi nhớ khi còn nhỏ, ba dẫn về thăm nội vườn cau. Hôm đó, mưa nhiều, con đường từ dưới bến lên nhà, đất bùn lẹp nhẹp, tôi ngã oành oạch. Nhà nội nhỏ xíu, mái lá dột tong tong. Đón ba, nội gầy gò, cười phô cả lợi: - Má tưởng con không về được, mưa gió tối trời vầy khéo cảm. Bà vuốt đầu tôi: - Tiên tổ mầy, sao mà giống cha quá vậy? Hôm ấy, bà giỗ chú Sơn. Trên cái bàn thờ con con thấp lè tè kia có đến ba chiếc lư đồng, cái nào cũng nghi ngút khói. Bữa giỗ chỉ vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho bông súng. Chưa bao giờ tôi được ăn lại nghe ngon như thế. Ba gắp thức ăn cho bà, bà gắp thức ăn cho tôi, đôn hậu bảo: - Ăn cho mau lớn, con. Tạnh mưa, mọi người lục đục đến, họ kéo gàu) xối ào ào ngoài hiên nước. Ai cũng gọi nội bằng má, “má Tư”. “Má Tư” ơi ới. Tôi hỏi: - Ba ơi, sao nội đông con quá vậy? Ba cười bảo: - Tối, ba kể con nghe. Một chú quần vo tới gối, tay cầm lồng vỗ vai ba cười ha hả: - Tạo biết chú mầy về nên đem thịt rắn qua đây, tụi mình lai rai Rồi chú quay lại: - Má ơi, cho tụi con vui một bữa với thằng Sơn nghen. Bà nội quấn lại cái khăn sờn lên tóc: - Rồi vợ mầy chạy lại méc má cho mầy coi. Nội ôm tôi vào lòng, ngồi trên võng bố đưa kèn kẹt. Các chú thỉnh thoảng lại cười vang. Nội cũng cười, trông nội vui lắm, cái vui như thức dậy sau đêm dài vươn mình ngắm bình minh. Ba tôi cùng các chú nói chuyện huyên thuyên, toàn là chuyện ngày xưa. Chú Biểu quần vo tới gối, uống rượu tòn tọt, cười khà: - Tưởng đâu lũ mầy quên má, quên hết tụi tạo. Ba tôi lúc lắc đầu, ông rót ba li rượu cúng trên bàn thờ, quay lại hỏi: - Bát hương em Châu, bên chồng rước về hở má? - Ừ, bên nhà sui bảo, cho chúng nó có đôi. Bà nội dẫn tôi ra vườn, cái nắng sau mưa nồng ngả vàng pha sắc đỏ, những giọt nước còn đọng lại trên tán lá non. Ở đây cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Trái chín đỏ lừ bên hông cau trắng muốt, tóc nội cũng trắng phau phau. Bà nắm tay tôi, bàn tay bà nhăn nheo, gân guốc. Đêm hôm ấy bà mắc mùng cho tôi ngủ, giường lạ ngủ không được. Ba kể hồi trước, ba cùng hai chú ở trên bàn thờ là đồng chí của nhau, các chú ấy hiên ngang và anh dũng lắm, ba bảo nội là một bà mẹ anh hùng. Tôi hơi bất ngờ, lẽ ra anh hùng phải là cao to, đẹp khỏe chứ! - Vậy nội có súng không ba? - Nội bán ve chai - Bán ve chai cũng là anh hùng hở bà? - Ừ, nội gánh giỏ đi đầu làng cuối xóm. Nội đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức. Ba vuốt đầu tôi, cái tay nặng trịch: - Giá mà các chú ấy còn sống, bây giờ nội đã có cháu, đâu phải sống một mình. Tôi nghe gai gai người, nhớ cái dáng còm cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua nheo nheo. Trông ra ngoài, thấy bóng còng còn in trên vách, tôi nhổm dậy, “con ra ngủ với bà nghe ba”. Ba tôi chuyển công tác lên tỉnh, nhà tôi dọn về phố khác. Mẹ nhắc ba: - Lâu rồi, anh không về thăm má “vườn cau”. - Ôi dào, má ở dưới, mấy anh dưới lo. Một hôm, chú Biểu đến nhà, chú mang theo xâu ếch dài thiệt dài, bỗ bã: - Cái này má gổi cho mầy, má biểu phải đem đến tận nhà. mấy giỗ mầy không về, má nhớ mầy lắm. Sáng hôm qua, má còn khoe vừa gặp mầy trên vô tuyến. Rồi chú lắc đầu: - Lũ mầy bạc làm sao đâu. Tối đó mưa xập xoài rả rích, ba tôi chong đèn ngồi rít thuốc, mẹ hỏi, ba bảo: “Uống rượu, ngủ không được”. Món thịt ếch đầu mùa lịm trong lưỡi làm ba đau nhói. Ba rủ tôi: - Mai về nội “vườn cau”, con ha? Chẳng biết chốn ấy còn chín lừ quả ngọt, hương cau còn nồng nàn trắng xóa một góc trời, tóc nội chắc bạc nhiều hơn. Lúc tôi về, thế nào bà cxung dúi cho tôi nhiều quả chín mang về biếu mẹ, xâu ếch biếu ba. Thứ thức ăn mà không có hương vị cao lương nào thay thế được, dù bây giờ ba tôi xuống ngựa lên xe. Bài văn được 4 điểm, lời phê cũng ngắn gọn như đề bài, “nghèo ý”, tôi viết: “Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc”. Bọn con Hải, Lam chọc ghẹo mãi, tôi chống chế: “Làm sao viết về mẹ bằng mấy dòng được, phải không?”.
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận