Soạn bài “Và tôi vẫn muốn mẹ…” SGK Ngữ văn 11 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn

Hãy chia sẻ câu chuyện cảm động nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn học, sân khấu, điện ảnh...).

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Trước khi đọc 1

Câu 1 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hãy chia sẻ câu chuyện cảm động nói về tình cảm mẹ con mà bạn từng biết qua các tác phẩm nghệ thuật (văn học, sân khấu, điện ảnh...).

Phương pháp giải:

Dựa vào hiểu biết của bản thân để trả lời câu hỏi này. 

Lời giải chi tiết:

Câu chuyện cảm động nhất về tình mẫu tử mà em biết đó là câu chuyện của Fantine và con gái của mình trong truyện Những người khốn khổ. Trong truyện. vì không có tiền nuôi con gái, cô đã gửi con mình cho một gia đình khác và hàng ngày đi làm kiếm tiền để chu cấp cho con. Đến khi con cô bị ốm và cô bị mất việc, cô đã trở thành gái điếm, rồi bán cả răng và tóc của mình để lấy tiền mua thuốc cho con gái mình. Và cho đến lúc chết, cô vẫn muốn cứu được con gái mình. Đó là một ví dụ điển hình của tình mẫu tử thiêng liêng mà em biết.  

Xem thêm cách soạn khác

Trước khi đọc 2

Câu 2 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Qua thực tế cuộc sống xung quanh, bạn biết được gì về những hậu quả mà chiến tranh gây ra đối với đời sống con người?

Phương pháp giải:

Dựa vào kiến thức của bản thân. 

Lời giải chi tiết:

Nó không chỉ gây ra sự phá hoại về cơ sở vật chất mà nó còn để lại những nỗi đau về tinh thần sâu sắc, nó khiến con người phải chịu cảnh ly tán, chia cắt mà thậm chí là sinh ly tử biệt…  

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 1

Câu 1 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Thời điểm và những sự kiện ban đầu xảy ra được lưu giữ trong kí ức của nhân vật. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn đầu của tác phẩm. 

Lời giải chi tiết:

- Thời điểm:  năm 1941

- Sự kiện: tác giả học xong lớp Một và tham gia vào một trại hè đội viên tại Gô-rô-đi-sa. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 2

Câu 2 (trang 42, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Những hình ảnh mà nhân vật chứng kiến trên đường đi trại hè đội viên.  

Phương pháp giải:

Chú ý vào diễn biến tiếp theo của câu chuyện. 

Lời giải chi tiết:

Tác giả đã vui sướng khi nhìn thấy những chiếc máy bay Đức và hiểu ra sự chết chóc đang đến dần khi chiếc máy bay đó ném bom xuống. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 3

Câu 3 (trang 42, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hoàn cảnh của chuyến đi có gì khác thường?

Phương pháp giải:

Chú ý vào hoàn cảnh của chuyến đi. 

Lời giải chi tiết:

Họ đang được đưa đến nơi không có chiến tranh – cái gọi là hậu phương, nhưng cứ đi đến đâu là quân Đức chuẩn bị đánh đến đấy và họ mãi mới dừng chân tại Mô-đô-vi-a. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 4

Câu 4 (trang 42, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Ấn tượng về nạn đói và chuyện ăn uống của con người trong đói khát. 

Phương pháp giải:

Chú ý diễn biến câu chuyện tiếp theo. 

Lời giải chi tiết:

Khi nạn đói ập đến, họ không có gì để ăn cả, thậm chí họ đã giết cả con ngựa già để ăn nó và giấu việc đó để lũ trẻ có thể ăn. Và thật may mắn vì lũ mèo quá gầy nên họ đã không phải ăn chúng. Tình cảnh đó thật sự đáng thương. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 5

Câu 5 (trang 43, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Trạng thái tinh thần của những đứa trẻ khi thiếu vắng mẹ. 

Phương pháp giải:

Chú ý nội dung của đoạn tiếp theo từ “Chúng tôi đi với những cái bụng ỏng… khóc không nguôi.” 

Lời giải chi tiết:

Những đứa trẻ đều rất nhớ mẹ, đến nỗi mà khi nghe thấy từ “mẹ”, tất cả đều bật khóc, những cô bảo mẫu kể chuyện cho chúng và luôn tránh nhắc đến từ đó, những đứa trẻ quá tội nghiệp. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 6

Câu 6 (trang 44, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Kết quả chờ đợi ba mẹ và niềm khát khao cháy bỏng của nhân vật. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn cuối. 

Lời giải chi tiết:

Sau bao nhiêu năm, trải qua biết bao sóng gió, tác giả vẫn không chờ đợi được ba mẹ của mình và khi ở độ tuổi hiện tại, đã năm mươi mốt tuổi, tác giả vẫn muốn gặp lại mẹ của mình như chục năm về trước, trong hình hài của một đứa trẻ. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 44, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hãy tóm lược nội dung được kể lại trong văn bản và cho biết những điểm nhấn quan trọng của câu chuyện. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào các diễn biến của truyện. 

Lời giải chi tiết:

Truyện kể về nhân vật tôi, vào năm tốt nghiệp lớp Một và đang tham gia vào một chuyến đi trại hè, chiến tranh đã nổ ra. Nhân vật tôi và hàng chục đứa trẻ khác được đưa đi sơ tán và sống trong trại trẻ mồ côi. Tình cảnh của chúng rất khó khăn khi luôn phải chịu cảnh đói khát và di tán. Rồi nhân vật tôi trốn ra và sống cùng một gia đình nghèo khó ở ngoài. Và nhân vật tôi vẫn luôn ấp ủ mong muốn tìm mẹ của mình nhưng không có kết quả. Cho đến ngày nay, khi đã 51 tuổi, mong muốn ấy vẫn còn.

Xem thêm cách soạn khác 

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 44, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chỉ ra những yếu tố tạo nên tính xác thực của các sự kiện được nhân vật kể lại cũng như trạng thái tâm lí của nhân vật trước các sự kiện đó. 

Phương pháp giải:

Dựa vào những yếu tố mang tính thực ở trong truyện. 

Lời giải chi tiết:

Đó là tháng, năm sự kiện diễn ra; địa điểm được nêu ra cụ thể, đầy đủ; các sự việc đều diễn ra liền mạch và được thể hiện rõ nét qua cảm nhận của tác giả. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 44, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Phân tích một số chi tiết, hình ảnh tạo nên bức tranh cuộc sống đặc biệt được tái hiện trong văn bản. Chi tiết, hình ảnh nào đã thực sự gây ấn tượng mạnh với bạn? Vì sao? 

Phương pháp giải:

Chú ý vào những sự kiện tác giả kể ra. 

Lời giải chi tiết:

* Cuộc sống nghèo đói, khổ cực

- không có chỗ nằm ngủ, chúng tôi đành chợp mắt trên rơm rạ…

- rồi nạn đói bắt đầu

- … người ta gọi đi ăn trưa, nhưng chẳng có gì để ăn.

- người ta giết Mai-ca. Và cho chúng tôi nước cùng một mẩu thịt rất nhỏ…

- …có thể ăn cả xô xúp, bởi trong xúp chẳng có gì.

- chúng tôi ăn hết tất cả chồi mầm, chúng tôi tước cả lớp vỏ non…

→ Những đứa trẻ đáng ra phải nhận được tình yêu thương lại phải chịu cảnh nay đây, mai đó, không có đủ thức ăn để ăn mà chỉ gắng gượng để sống sót bằng cách ăn mọi thứ mà chúng có.

* Cuộc sống thiếu vắng tình thương của mẹ

- Những đứa trẻ nhỏ, chúng tôi có khoảng bốn mươi đứa… chúng tôi khóc rền. Gọi ba gọi mẹ.

- Cô bảo mẫu và giáo viên cố không nhắc đến từ “mẹ”…

- … ai đó bất ngờ nhắc đến mẹ, lập tức tất cả khóc òa

→ Đó là tiếng khóc của những đứa trẻ đáng thương, chúng còn quá nhỏ để xa mẹ. Chúng ngày đêm mong ngóng ngày được gặp lại ba mẹ của mình trong vô vọng.

Xem thêm cách soạn khác 

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 45, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Toàn bộ câu chuyện được kể bởi một người vì chiến tranh mà đã phải nếm trải những ngày tháng đau thương ở tuổi ấu thơ, tác giả chỉ là người ghi lại. Vậy trong việc tạo lập văn bản này, tác giả đóng vai trò gì? Phân tích thái độ của tác giả khi ghi lại các sự kiện mà nhân chứng kể lại.

Phương pháp giải:

Chú ý vào tâm tư, tình cảm của nhân vật tôi. 

Lời giải chi tiết:

Trong việc tạo lập văn bản này, tác giả đóng vai trò là người kể chuyện – người chứng kiến toàn bộ và cũng tham gia vào câu chuyện này.

Những câu chuyện mà nhân vật tôi kể đều có cụ thể thời gian, địa điểm rõ ràng; mọi người ra sao; trong tình cảnh như thế nào… tất cả đều được nhân vật tôi chứng kiến và kể lại. Bởi có lẽ đó là một phần ký ức kinh hoàng, đáng sợ về những năm tháng tuổi thơ gắn với chiến tranh, sống trong lo sợ, đói nghèo và thiếu vắng tình thương. Tác giả luôn cảm thông, chia sẻ với mọi người xung quanh, là một đứa trẻ hiểu chuyện và sống có tình cảm. Đặc biệt đó là nỗi nhớ mẹ, cậu bé ấy ngày đêm mong ngóng, hỏi han về mẹ của mình, rồi bắt đầu hành trình tìm kiếm trong vô vọng. Để cuối cùng, sau bao nhiêu năm trôi qua, nỗi ám ảnh về những năm tháng đó vẫn còn và cậu bé ngày ấy đã lớn lên, nhưng cậu vẫn muốn được gặp mẹ - cảm xúc ấy vẫn không thay đổi suốt bao nhiêu năm trôi qua. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 45, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Theo bạn, những yếu tố nào có khả năng tạo nên sức lay động của văn bản đối với người đọc? Thông điệp mà bạn nhận được từ văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ..." là gì? 

Phương pháp giải:

Chú ý vào thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. 

Lời giải chi tiết:

Theo em, những yếu tố có tác dụng tạo nên sức lay động của văn bản đối với người đọc là sự chân thực của từng câu chuyện. Mỗi sự việc trong câu chuyện được tác giả kể lại một cách ngắn gọn, cô đọng bằng chính những cảm xúc thật của mình – của một người đã trải qua hết những câu chuyện ấy. Những tình cảm trong đó đều quá đỗi chân thật, nó gắn với từng sự kiện, hoàn cảnh một cách hoàn hảo.

Và qua văn bản này, em nhận ra rằng: chiến tranh là khởi nguồn của mọi bất hạnh. Chúng ta cần phải đấu tranh và ngăn cản nó. 

Xem thêm cách soạn khác

Kết nối đọc - viết

Câu hỏi (trang 45, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích ý nghĩa hai câu cuối trong văn bản: “Tôi đã năm mươi mốt tuổi, tôi có hai con. Và tôi vẫn còn muốn mẹ."

Phương pháp giải:

Dựa vào ý hiểu của bản thân về tác phẩm và 2 câu cuối của truyện để trả lời câu hỏi này. 

Lời giải chi tiết:

Hai câu cuối của truyện như một lời tâm sự thầm kín từ tận đáy lòng của nhân vật tôi. Chiến tranh đã qua đi, ông cũng đã may mắn sống sót và có cuộc sống mới với gia đình và 2 con của mình, dù cho những ký ức về năm tháng tuổi thơ gắn với chiến tranh vẫn còn đó. Hai câu cuối đã phản ánh hậu quả của chiến tranh để lại đối với tuổi thơ của đứa trẻ ngày nào. Họ đã lớn lên, nhận thức được mọi thứ nhưng sự thiếu thốn tình mẹ ấy vẫn còn đó, trong thân xác của một người lớn tuổi, cậu vẫn nhớ về mẹ mình, vẫn muốn được gặp mẹ và được ôm vào vòng tay ấm áp đó. Đó là niềm khao khát, sự mong mỏi trong vô vọng của một đứa trẻ đã trải qua chiến tranh. Nó cũng nhắc nhở chúng ta một điều rằng: có những câu chuyện sẽ chẳng thể quên được dù thời gian có trôi qua.

Xem thêm cách soạn khác 

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ
+

Và tôi vẫn muốn mẹ

Avét-la-na A-lếch-xi-ê-vích

Din-na Cô-si-ắc (Zina Kosyak) – tám tuổi. Hiện là thợ tóc

Lớp Một.

Tôi học xong lớp Một vào tháng Năm năm bốn mốt, và ba mẹ tiễn tôi đi trại hè đội viên ở Gô-tô-đi-sa (Gorodisha) gần Min-xcơ (Minsk). Tôi mới bơi được một lần ở đây, hai ngày sau đã là chiến tranh. Người ta đưa chúng tôi lên tàu và chở đi. Máy bay Đức bay trên đầu, còn chúng tôi hò reo: “Ura 7”. Chúng là máy bay lạ, chúng tôi nào hiểu. Cho đến khi máy bay đánh bom. Khi đó tất cả màu sắc đều biến mất.

Tất cả sắc màu. Lần đầu tiên từ “chết chóc” xuất hiện, mọi người đều nói cái từ khó hiểu đó. Còn ba mẹ thì không bên cạnh...

Khi chúng tôi rời khỏi trại, người ta bỏ đầy áo gối mỗi đứa thứ gì đó - đứa thì ngũ cốc, đứa thì đường. Cả những đứa bé nhất cũng không được chừa, tất cả đều phải mang gì đó theo mình. Chúng tôi phải mang càng nhiều thực phẩm càng tốt trên đường đi, và dùng rất dè sẻn. Nhưng trên tàu chúng tôi thấy những người lính bị thương. Họ rên la, đau đớn đến độ chúng tôi chỉ muốn trao hết tất cả cho. Chúng tôi gọi đó là: “Cho các ba án”. Chúng tôi gọi tất cả những người đàn ông mặc đồ lính là ba.

Người ta kể với chúng tôi là Min-xcơ đã cháy, cháy rụi, quân Đức đã chiếm mất rồi, nên chúng tôi sẽ đi về hậu phương. Chúng tôi đi về nơi không có chiến tranh. Họ chở chúng tôi đi cả tháng. Đưa chúng tôi về thành phố nào đó, nhưng cứ gần tới nơi, họ lại không để chúng tôi ở đó, vì quân Đức đã gần kể. Và cứ thế chúng tôi đến tận Mô-đô-vi-a (Mordovia).

Chỗ ấy rất đẹp, xung quanh là nhà thờ. Những ngôi nhà thấp, còn nhà thờ thì cao. Không có chỗ nằm ngủ, chúng tôi đành chợp mắt trên rơm rạ. Khi mùa đông đến, bốn đứa chung một đôi ủng. Rồi nạn đói bắt đầu. Không chỉ trại mồ côi đói, mà những người xung quanh chúng tôi cũng đói, bởi mọi thứ đều chuyển ra tiền tuyến. Trong trại có hai trăm năm mươi đứa trẻ, và có lần người ta gọi đi ăn trưa, nhưng chẳng có gì để ăn. Những cô bảo mẫu và giám đốc ngồi trong nhà ăn nhìn chúng tôi, mắt họ đầy lệ. Chúng tôi có con ngựa Mai-ca (Maika). Nó già và rất dịu dàng chúng tôi dùng nó để chở nước. Ngày hôm sau, người ta giết Mai-ca. Và cho chúng tôi nước cùng một mẩu rất nhỏ thịt Mai-ca. Người ta giấu chúng tôi chuyện đó rất lâu. Không thì chúng tôi đã không thể nào ăn nổi. Không cách nào! Đó là con ngựa duy nhất trong trại trẻ chúng tôi. Và hai con mèo đói nữa. Những bộ xương! Thật tốt, sau này chúng tôi nghĩ, phúc đức làm sao, nhờ lũ mèo gầy trơ xương nên chúng tôi không phải ăn chúng. Chúng chẳng có gì để ăn cả.

Chúng tôi đi với những cái bụng ông như tôi chẳng hạn, có thể ăn cả xô xúp, bởi trong xúp chẳng có gì. Họ đổ cho tôi bao nhiêu, tôi sẽ ăn và ăn bấy nhiêu. Thiên nhiên đã cứu chúng tôi, những con vật nhai lại. Mùa xuân, trong bán kính vài cây số không một cái cây nào dâm chồi nẩy lộc. Bởi chúng tôi đã ăn hết tất cả chồi mầm, chúng tôi tước cả lớp vỏ non. Chúng tôi ăn cỏ, ăn sạch. Người ta cho chúng tôi mặc những chiếc áo khoác ngắn, chúng tôi khoét túi áo để mang cỏ theo người, mang theo và nhai đi nhai lại. Mùa hè cứu độ chúng tôi, còn mùa đông trôi qua rất nặng nề. Những đứa trẻ nhỏ, chúng tôi có khoảng bốn mươi đứa, được cho ở riêng. Ban đêm chúng tôi khóc rền. Gọi ba gọi mẹ.

Các cô bảo mẫu và giáo viên cố không nhắc đến từ “mẹ” khi có mặt chúng tôi. Họ kể cho chúng tôi chuyện cổ tích và chọn những quyển sách không có từ này. Nhưng nếu ai đó bất ngờ nhắc đến “mẹ”, lập tức tất cả khóc oà. Gào khóc không nguôi.

Tôi học lại lớp Một, bởi cơ sự thế này: Tôi đã kết thúc lớp Một với bằng khen, nhưng khi tới trại mồ côi và người ta hỏi em nào bị thi lại, tôi đáp là em, vì tôi nghĩ: Thi lại tức là bằng khen. Đến lớp Ba, tôi trốn khỏi trại. Tôi đi tìm mẹ. Đói là và kiệt sức, tôi được ông già Bôn-sa-cốp (Bolshakov) tìm thấy trong rừng. Biết tôi từ trại mồ côi, ông mang tôi về gia đình mình. Cùng với bà, ba người chúng tôi sống đáp đổi qua ngày. Khi dần khoẻ lên, tôi bắt đầu giúp họ việc nhà: dọn cỏ, thu hoạch khoai tây - làm hết mọi việc. Chúng tôi ăn thứ bánh mì có rất ít bột mì. Nó đắng – đẳng làm sao.

Chúng tôi cho vào bột tất tần tật những gì xay ra được: rau muối, hoa hồ đào, khoai tây. Đến giờ tôi vẫn không thể thản nhiên nhìn cỏ mọng và ăn rất nhiều bánh mì. Tôi không cảm thấy no. Sau hàng chục năm trôi qua.

Dẫu sao tôi vẫn nhớ bao nhiêu chuyện. Tôi còn nhớ nhiều... Tôi nhớ một bé gái điên, lẻn vào vườn ai đó, tìm thấy một cái hang và đứng đó canh chuột. Em muốn ăn. Tôi nhớ gương mặt em, thậm chí cả cái áo không tay mà em mặc. Có lần tôi lại gần em, ern kể tôi nghe về con chuột. Rồi chúng tôi cùng ngồi canh con chuột đó.

Suốt cuộc chiến tôi đã đợi, đợi khi nào chiến tranh chấm dứt, sẽ thắng con ngựa của ông đi tìm mẹ. Khi những người tản cư ghé qua nhà, tôi luôn hỏi họ: “Mọi người có gặp mẹ cháu không?”. Người sơ tán đồng lắm, đồng đến nỗi mỗi nhà đều có một nồi nước tầm ma. Để người tị nạn có chút gì đó ấm áp mà hớp khi họ ghé qua. Ngoài ra chẳng có gì cho họ cả. Những cái nồi tầm ma ở mỗi nhà... Tôi nhớ rất rõ. Tôi là người đi hái tầm ma mà.

Chiến tranh kết thúc. Tôi đợi một, rồi hai ngày, nhưng không ai đến đón tôi. Mẹ không đến, và ba thì tôi biết, đang ở trong quân ngũ. Tôi đợi như thế suốt hai tuần, đến khi không còn sức để đợi nữa. Tôi lẻn trốn dưới gầm ghế một con tàu và ra đi...

Đi đâu? Tôi không biết. Tôi ngỡ (đó vẫn còn là nhận thức tuổi thơ) rằng tất cả các chuyến tàu đều đến Min-xoa. Và ở Min-xcơ mẹ đang chờ tôi! Sau đó ba tôi sẽ về.

Như một anh hùng! Với các huân chương mề đay,...

Nhưng họ đã mất tích đâu đó trong một trận bom.

Sau này những người láng giềng kể lại, cả hai đã lao đi tìm tôi. Họ chạy ra ga...

Tôi đã năm mươi mốt tuổi, tôi có hai con. Và tôi vẫn còn muốn mẹ.

 (Xvét-la-na A-léch-xi-ê-vích. Những nhân chứng cuối cùng – Solo cho giọng trẻ em, Phan Xuân Loan dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2017, tr. 21 – 24)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close