Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thứcTrong bài viết, tác giả dựa trên những cơ sở nào khi chọn hai bài thơ để so sánh, đánh giá? Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào? Bạn có nhận xét gì về hiệu quả của cách triển khai đó? Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Sau khi đọc 1 Trả lời Câu hỏi 1 Sau khi đọc 56 SGK Văn 12 Kết nối tri thức Bài viết cho thấy tác giả đã dựa trên những cơ sở nào khi chọn hai bài thơ để so sánh, đánh giá? Phương pháp giải: Chỉ ra những luận điểm thể hiện cơ sở so sánh, đánh giá hai tác phẩm, tìm điểm giống và khác nhau của hai tác phẩm. Lời giải chi tiết: Cơ sở để so sánh bài Thu vịnh và Đây mùa thu tới: 1. Đều là những bài thơ tiêu biểu về mùa thu: - Thu vịnh: Tác phẩm của Nguyễn Khuyến, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ ca Tú Xương. - Đây mùa thu tới: Tác phẩm của Xuân Diệu, một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới. 2. Cùng chủ đề miêu tả cảnh sắc và tâm trạng trước mùa thu: - Hai bài thơ đều thể hiện cảm nhận tinh tế về mùa thu, với những hình ảnh và ngôn ngữ đặc trưng. 3. Có sự tương đồng và đối lập về cách thể hiện: - Tương đồng: + Cả hai bài thơ đều sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. + Bút pháp miêu tả tinh tế, giàu sức gợi tả. + Thể hiện tình yêu thiên nhiên và tâm hồn nhạy cảm của tác giả. - Đối lập: + Cảnh thu: Thu vịnh: Bức tranh thu mang vẻ đẹp thanh tao, tĩnh lặng, cổ điển. Đây mùa thu tới: Bức tranh thu mang vẻ đẹp rực rỡ, sôi động, hiện đại. + Tâm trạng: Thu vịnh: Nỗi buồn man mác, niềm tiếc nuối trước sự tàn phai của thời gian. Đây mùa thu tới: Niềm vui sướng, hân hoan trước vẻ đẹp của mùa thu. Sau khi đọc 2 Trả lời Câu hỏi 2 Sau khi đọc 56 SGK Văn 12 Kết nối tri thức Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào? Bạn có nhận xét gì về hiệu quả của cách triển khai đó? Phương pháp giải: Chú ý các tiêu chí so sánh, các cơ sở mà tác giả lựa chọn để so sánh hai bài thơ. Lời giải chi tiết: - Bài viết khai thác các nội dung so sánh, đánh giá về đề tài; tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện trong mỗi bài thơ tác giả so sánh điểm tương đồng và khác biệt về tư tưởng, tình cảm Tác giả so sánh về giá trị nghệ thuật: ngôn ngữ thơ, giọng điệu và bút pháp nghệ thuật trong thơ. → Bài viết sử dụng cách so sánh theo đối tượng. - Nhận xét về cách triển khai: Tác giả của bài viết có cách triển khai so sánh toàn diện cả về nội dung và nghệ thuật. Với cách so sánh này chúng ta có thể dễ dàng nhìn nhận và hiểu sâu sắc về tư tưởng, tình cảm trong hai bài thơ. Với cách so sánh cụ thể, chi tiết và hệ thống lập luận chặt chẽ tác giả đã cho người đọc cảm nhận được quan điểm, ý kiến riêng của bản thân cũng như cách cảm, cách nghĩ của chủ thể về hai bài thơ. Sau khi đọc 3 Trả lời Câu hỏi 3 Sau khi đọc 56 SGK Văn 12 Kết nối tri thức Theo bạn, có thể có những cách trình bày nào khác về các nội dung so sánh, đánh giá trong bài viết? Phương pháp giải: Vận dụng tri thức Ngữ văn, vận dụng khả năng phân tích để trả lời câu hỏi. Lời giải chi tiết: Ngoài cách trình bày truyền thống theo từng tiêu chí, bạn có thể sử dụng một số cách trình bày khác để bài viết thêm sáng tạo và thu hút: 1. So sánh theo đối tượng: - So sánh từng đối tượng riêng lẻ, sau đó so sánh tổng quan hai đối tượng. - So sánh từng khía cạnh của hai đối tượng, ví dụ: so sánh nội dung, so sánh nghệ thuật, so sánh giá trị. 2. So sánh theo chủ đề: - Lựa chọn một chủ đề chung cho hai đối tượng và so sánh cách thể hiện chủ đề đó trong mỗi tác phẩm. - So sánh điểm tương đồng và khác biệt về cách thể hiện chủ đề. 3. So sánh theo bố cục: - Phân tích bố cục của từng tác phẩm và so sánh điểm tương đồng và khác biệt. - So sánh hiệu quả nghệ thuật của bố cục trong mỗi tác phẩm. 4. So sánh theo ngôn ngữ: - Phân tích ngôn ngữ sử dụng trong hai tác phẩm và so sánh điểm tương đồng và khác biệt. - So sánh hiệu quả biểu đạt của ngôn ngữ trong mỗi tác phẩm. 5. So sánh theo hình ảnh: - Phân tích hình ảnh thơ trong hai tác phẩm và so sánh điểm tương đồng và khác biệt. - So sánh hiệu quả gợi cảm của hình ảnh thơ trong mỗi tác phẩm. Thực hành viết Trả lời Câu hỏi Thực hành viết trang 56 SGK Văn 12 Kết nối tri thức Chọn đề tài: So sánh, đánh giá hình tượng người lính trong Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) Phương pháp giải: Dựa vào phần hướng dẫn viết Phân tích hình tượng người lính trong hai văn bản Lời giải chi tiết: Bài tham khảo 1: Thơ ca được bắt nguồn từ chính cuộc sống và có lẽ vì vậy mà mỗi bài thơ mang đến sự đồng cảm giữa người đọc, người nghe và tâm hồn của nhà thơ. Đặc biệt, những bài thơ liên quan đến hình ảnh người lính trong hai giai đoạn kháng chiến và chống Mĩ làm cho chúng ta yêu quý cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc hơn. Tuy nhiên, hình ảnh người lính trong mỗi giai đoạn lại có những điểm tương đồng và khác biệt, và do đó, các bài thơ trong mỗi giai đoạn cũng miêu tả những hình ảnh người lính khác nhau, như bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu và "Bài thơ về Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. Sự khác biệt đầu tiên của họ nằm trong hoàn cảnh chiến đấu và xuất thân. Bài thơ "Đồng chí" được Chính Hữu sáng tác vào tháng 5 năm 1948, thời điểm mà giặc Pháp tái xâm lược nước ta sau cách mạng tháng 8. Cuộc sống trong chiến khu đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với những người nông dân nghèo khổ. Hiểu rõ nỗi đau của dân tộc, những người nông dân từ khắp nẻo đường đất nước đã từ bỏ ruộng đồng và quê hương để lắng nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. "Quê hương anh nước mặn đồng chua Phạm Tiến Duật, một nhà thơ trẻ trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước, khác biệt với Chính Hữu khi sáng tác "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" vào tháng 5 năm 1969. Thời điểm này đánh dấu cuộc kháng chiến đang diễn ra khốc liệt nhất, và anh gia nhập quân đội khi còn rất trẻ. Họ ra đi khi tuổi thanh xuân còn phơi phới, đôi chân còn tràn đầy năng lượng. Những anh hùng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" ấy không quan tâm đến tương lai rộng mở, mà trái tim họ bị níu chặt tại mặt trận, vì hai từ "yêu nước". Vì hoàn cảnh và xuất thân khác nhau, lý tưởng chiến đấu và ý thức giác ngộ của họ cũng không tránh khỏi sự khác biệt. Trong bài thơ "Đồng chí", nhận thức về chiến tranh của người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc. Họ chỉ biết rằng chiến đấu để thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, để giành lại tự do và quyền làm người. Trong tâm hồn của họ, tình đồng chí và đồng đội là món quà thiêng liêng và quý giá nhất mà họ nhận được trong suốt quãng thời gian dài gắn bó với khẩu súng. "Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, khái niệm về tinh thần yêu nước và thống nhất quốc gia đã thấm sâu vào lòng mỗi cá nhân trong chiến khu. Họ hiểu rằng trong giai đoạn này, khi miền Bắc đang tiến hành xây dựng chế độ CNXH, miền Nam vẫn phải đối mặt với khó khăn do xâm lược của đế quốc Mĩ. Và "thống nhất" trở thành mục tiêu hàng đầu của dân tộc Việt Nam. Trái tim của người Việt Nam, trong đó có những người lính Trường Sơn, tràn đầy tinh thần lạc quan, ý chí quyết thắng để giải phóng miền Nam, cùng với tình đồng chí đã hình thành từ thời kỳ kháng chiến. "Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Thật là thiếu sót nếu ta không nhắc đến vẻ đẹp của hai bài thơ này. "Đồng chí" tươi đẹp trong sự giản dị và mộc mạc, nhưng lại mang trong mình sự sâu sắc. Tình đồng chí được thể hiện tự nhiên và hòa hợp trong tinh thần yêu nước mãnh liệt và lòng chia sẻ giữa những người bạn. Còn "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" rực rỡ với nét trẻ trung, tinh thần lạc quan và dũng cảm, đầy sự yêu thương quê hương trong tim. Sự khao khát và niềm tin của họ được truyền tải qua những chiếc xe không kính, là phương tiện mang họ vượt qua dãy Trường Sơn, trực tiếp tiến vào miền Nam yêu dấu. Tuy nhiên, những người lính ấy, dù ở thời kỳ nào, vẫn mang trong lòng những nỗi nhớ mãi không phai về quê hương. Sống giữa chiến trường với tình đồng chí thiêng liêng, trái tim của những người nông dân luôn rạng rỡ mỗi khi hình ảnh mẹ già, vợ yêu hay con thơ hiện lên trong tâm trí. Những người lính cảm thấy xót xa khi nghĩ về ruộng đồng bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm, hay ngôi nhà trống trải cảm giác cô đơn trống trải. "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày, Người lính chống Mĩ lại mang sự khác biệt, nỗi nhớ của họ chạm đến kí ức trường học, như một sự tiếc nuối về những trang sách còn mới mẻ. Họ cảm thấy buồn bởi những giấc mơ sáng rực trên hành trình tương lai phải bị ngăn chặn. Tuy nhiên, họ nhận thức rằng trách nhiệm với quê hương vẫn còn đó, và vì thế họ quyết tâm đấu tranh hết mình. Họ biến con đường ra chiến trường thành ngôi nhà chung, kết nối những trái tim với tinh thần đồng lòng chống lại sự xâm lược ngoại bang. "Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời, Khi xét về nghệ thuật của hai bài thơ, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt tương đối rõ ràng. Chính Hữu sử dụng phong cách lãng mạn, xây dựng biểu tượng cho tình đồng chí trong thơ của mình, như "đầu súng trăng treo". Cảm hứng tràn đầy rồi lại lắng đọng trong tâm hồn, biến thành hình ảnh của chiến đấu và hòa bình, tạo nên một bài thơ trữ tình sâu sắc và hấp dẫn. Trái ngược với đó, Phạm Tiến Duật xây dựng hình ảnh người lính bằng những thực tế trong cuộc sống chiến đấu, gần gũi như "xe không kính". Hình ảnh thơ này thực sự độc đáo, khiến người đọc lần đầu tiên cảm thấy ngạc nhiên bởi tính đột phá và sự đơn giản đầy tinh tế trong "bài thơ về tiểu đội xe không kính". Dù khác nhau về hoàn cảnh và xuất thân, cũng như lý tưởng chiến đấu, nhưng họ cùng chung một mục tiêu duy nhất: chiến đấu cho hòa bình, độc lập, và tự do của tổ quốc. Quyết tâm là nền tảng, tinh thần là cơ sở mạnh mẽ để họ tiến về tương lai, được xây dựng bởi tình đồng chí. Dù biết rằng trong cuộc chiến, có những người đã hy sinh, nhưng đó lại là động lực lớn hơn, tiếp thêm sức mạnh cho ước mơ của những chiến sĩ bay xa, bay cao. Hình tượng người lính trong hai thời kỳ đều chứa đựng những phẩm chất cao đẹp của anh hùng đội cụ Hồ, chúng ta cần trân trọng và yêu quý. Tóm lại, người lính mãi là biểu tượng tươi đẹp và sống động nhất của chiến tranh, dù trong thời kỳ phong kiến hay chống Mỹ. Họ hiện ra gần gũi và thân thương, với tình đồng đội ấm áp đã, đang và sẽ mãi ấp ủ trong trái tim. Họ là những cây xương rồng kiên cường, vươn lên giữa sa mạc khô cằn. Họ là ngọn đèn chiếu sáng con đường quê hương, dẫn dắt đất nước đi đến hòa bình và phát triển như ngày hôm nay.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc, hình ảnh những người chiến sĩ – người lính luôn là bức tượng đài đi vào lòng người với phẩm chất, tư thế cao quý, thiêng liêng và đẹp đẽ. Bởi vậy, đề tài người lính đã xuất hiện trong các tác phẩm văn học qua cảm hứng ngợi ca. Điều này đã được thể hiện rõ thông qua hai tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. “Đồng chí” của Chính Hữu là một trong những tác phẩm ra đời sớm nhất và hay nhất trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Ra đời vào năm 1948, sau khi tác giả Chính Hữu tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực, sinh động tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của những người lính. Bằng ngôn ngữ thơ gần gũi, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thông qua hoàn cảnh xuất thân và lí tưởng chiến đấu: “Quê hương anh nước mặn, đồng chua Trong công cuộc kháng chiến mang tính toàn dân, toàn diện, người nông dân sẵn sàng rời bỏ những gì thân thuộc nhất để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tình nguyện đứng trong hàng ngũ và trở thành những người nông dân mặc áo lính. Tác giả đã vận dụng thành công các thành ngữ dân gian để khắc họa, tô đậm sự tương đồng về cảnh ngộ và hoàn cảnh xuất thân của họ. Đó cũng chính là nền tảng để tạo nên sự đồng cảm giai cấp và tạo dựng cơ sở vững chắc để hình thành tình cảm đồng chí, đồng đội đoàn kết, gắn bó. Nếu như trước đây, họ là những người xa lạ “Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” thì giờ đây, họ gặp gỡ nhau bởi sự tương đồng về lí tưởng chiến đấu bảo vệ dân tộc. Trải qua những gian khổ, khắc nghiệt của cuộc chiến, những người nông dân vốn xa lạ bỗng trở thành “tri kỉ” – những người bạn tâm giao gắn bó qua sự thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia. Chính những yếu tố đó đã tạo nên tinh thần vượt qua mọi khó khăn bằng tinh thần đồng cam cộng khổ: “Súng bên súng đầu sát bên đầu Dù đến từ những phương trời xa lạ nhưng họ gặp gỡ nhau ở điểm chung về trái tim yêu nước và lí tưởng chiến đấu, bảo vệ dân tộc. Nếu như hình ảnh “Súng bên súng” gợi lên sự tương đồng về lí tưởng, nhiệm vụ chiến đấu thì cách nói hoán dụ “đầu sát bên đầu” mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc diễn tả ý chí quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp của những người nông dân mặc áo lính. Đó là những điểm tựa tinh thần nâng đỡ tinh thần đồng đội, bồi đắp tình cảm “tri kỉ” của người lính trong những năm tháng mưa bom bão đạn. Bức chân dung người lính còn được phác họa trong sự quyện hòa giữa chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn thông qua hình ảnh “Đầu súng trăng treo” độc đáo. Giữa những đêm hành quân trong không gian “rừng hoang sương muối”, những người lính cầm chắc tay súng với tư thế chủ động, hiên ngang, vầng trăng như hạ thấp treo trên đầu mũi súng. Nếu như “súng” là biểu tượng cho sự tàn khốc của chiến tranh thì “trăng” là hình ảnh tượng trưng của hòa bình và chất lãng mạn. Bởi vậy, “đầu súng trăng treo” đã tạo nên những cảm nhận độc đáo về chiến tranh và hòa bình, chất hiện thực quyện hòa chất lãng mạn, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thi sĩ trong tâm hồn những người lính. Như vậy, qua bài thơ “Đồng chí”, tác giả Chính Hữu đã ngợi ca tình cảm đồng chí, đồng đội gắn bó thiêng liêng cao đẹp giữa những người lính cách mạng, tạo nên bức chân dung giản dị, chân thực về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. Nếu “Đồng chí” được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp thì “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ra đời vào năm 1969- thời điểm công cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Trong tác phẩm, vẻ đẹp của người chiến sĩ được tác giả Phạm Tiến Duật tái hiện thông qua sự song hành, sóng đôi giữa hình ảnh những chiếc xe không kính và người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Bằng giọng điệu tự nhiên, tinh nghịch và ngôn ngữ đậm chất đời thường, nhà thơ đã đưa vào diễn đàn văn học Việt Nam hình ảnh những chiếc xe không kính độc đáo: “Không có kính không phải vì xe không có kính Qua việc sử dụng điệp từ “không” và lối nói khẩu ngữ, tác giả đã tái hiện một cách chân thực hình ảnh những chiếc xe không kính – biểu tượng cho sự tàn phá khốc liệt của bom đạn kẻ thù, đồng thời gợi nên sự gian truân, hiểm nguy trên đường ra mặt trận. Trong bối cảnh đó, hình ảnh người lính xuất hiện với tư thế hiên ngang: “Ung dung buồng lái ta ngồi, Tác giả đã vận dụng biện pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” lên đầu câu thơ để nhấn mạnh phong thái điềm tĩnh trước những lửa đạn bom rơi. Điệp từ “nhìn” được nhắc lại ba lần gợi lên âm điệu ngân vang, diễn tả cái nhìn đầy khoáng đạt trước thiên nhiên, đất trời bao la của người lính lái xe. Qua khung cửa xe, họ ung dung đối diện với sự khắc nghiệt, tàn khốc của cuộc chiến:“gió vào xoa mắt đắng”, “sao trời”, “cánh chim” đột ngột như “sa”, “ùa” vào buồng lái. Họ chấp nhận những gian khổ bằng tinh thần coi thường, bất chấp mọi hiểm nguy: “Không có kính, ừ thì có bụi, Điệp cấu trúc câu “Không có… ừ thì” kết hợp với việc sử dụng kết cấu phủ định “Chưa có” đã làm nổi bật tinh thần lạc quan, sự ngang tàn, dũng cảm của người lính trước mọi khó khăn, gian khổ. Đồng thời, bài thơ còn khắc họa vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội của những người lính lái xe: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới – Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Hình ảnh chân thực đã gợi ra sự đồng cảm, sẻ chia sâu sắc giữa những người lính. Tình cảm gắn bó giữa họ được tạo nên bởi điểm chung về lí tưởng, mục đích chiến đấu: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Cách nói hình ảnh “vì miền Nam phía trước” đã thể hiện niềm tin, tinh thần lạc quan của người lính về sự chiến thắng của nhân dân ta trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng thời, hình ảnh hoán dụ “một trái tim” đã làm nổi bật “trái tim cầm lái” luôn rực cháy ngọn lửa yêu nước và tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường của người lính. Như vậy, qua hai tác phẩm, chúng ta có thể thấy được vẻ đẹp chung của những người lính về lí tưởng chiến đấu, ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc cùng tinh thần dũng cảm, yêu nước mãnh liệt, đồng thời, họ đều sử dụng sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội để vượt qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.Tuy nhiên, trong mỗi một thi phẩm, vẻ đẹp người lính lại được khám phá ở một phương diện riêng. Ở bài thơ “Đồng chí”, tác giả Chính Hữu khắc họa vẻ đẹp của người nông dân mặc áo lính thông qua sự mộc mạc, chân chất và sự quyện hòa giữa chất hiện thực – lãng mạn; còn trong tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật đem đến bức chân dung người chiến sĩ lái xe trẻ trung, sôi nổi, ngang tàn qua cái nhìn đậm chất hiện thực về cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mĩ của dân tộc. Qua những gì đã phân tích, chúng ta có thể khẳng định rằng “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đều khám phá, tái hiện và xây dựng thành công bức chân dung của những người lính với những vẻ đẹp, phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng. Là những nhà thơ quân đội trưởng thành trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật từng sống, trải nghiệm và thấm thía đời sống của người lính trên chiến trường. Trên đôi bàn tay của hai nhà thơ không chỉ vững vàng những cây súng đánh giặc mà còn từng bung nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính. Hai trong số những áng thơ ấy là Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cùng khắc họa hình ảnh người lính trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam nhưng bên cạnh những điểm chung vốn dễ nhận thấy, ở hai bài thơ, mỗi bài lại có những nét đẹp riêng. Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ra đời năm 1948, những năm tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp đầy vất vả, chính quyền ta vừa thành lập còn non trẻ. Những người lính của "Đồng chí" là những người lính chống Pháp, họ đến với kháng chiến từ màu áo nâu của người nông dân, từ cái nghèo khó của những miền quê lam lũ: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Còn Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật ra đời năm 1969, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang vào hồi ác liệt. Những người lính thời kì này còn rất trẻ. Họ phần lớn vừa rời ghế nhà trường, tâm hồn còn phơi phới tuổi xuân. Đó là những con người: "Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ Mà lòng phơi phới dậy tương lai". Hoàn cảnh, điều kiện khác nhau như vậy tất yếu dẫn đến sự khác nhau về ý thức giác ngộ cách mạng của những người lính ở hai bài thơ. Nhận thức về chiến tranh của những người lính chống Pháp còn đơn giản, chưa sâu sắc như thời kì kháng chiến chống Mĩ. Trong "Đồng chí", tình cảm thiêng liêng nhất được nhắc tới là tình đồng chí, đồng đội. Trong "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" mới thấy xuất hiện ý niệm về ý chí, tinh thần yêu nước: "Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim" Sống giữa chiến trường với tình đồng đội thiêng liêng, người lính chống Pháp nhớ về gia đình với mẹ già, vợ dại, con thơ. Người lính kháng Mĩ thì đã khác. Họ hiểu rằng kháng chiến là gian khố và còn trường kì nữa. Vậy nên xe hàng cùng con đường ra mặt trận đã trở thành ngôi nhà chung và những người đồng đội đã trở thành gia đình ruột thịt: "Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy". Và điều khác nhau cơ bản giữa hai thi phẩm chính là bút pháp thơ của hai tác giả. Chính Hữu dùng bút pháp hiện thực - lãng mạn dựng lên hình ảnh những người lính thời kì đầu của cuộc kháng chiến với nhiều khó khăn thiếu thốn: "Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày" Cảm hứng lãng mạn được lắng đọng trong cảm xúc về tình đồng chí thiêng liêng: "Đồng chí!" cùng những hình ảnh thơ giàu sức gợi "đầu súng trăng treo". Bài thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" lại được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn - hiện thực. Cái khó khăn thiếu thốn không bị lảng tránh: "Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước". Nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là sự ngang tàng, tinh nghịch của những người lính trẻ lạc quan yêu đời: "Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng" "ừ thì gió bụi" "ừ thì ướt áo",... Có thể nói, trong "Đồng chí" của Chính Hữu, nhà thơ đã dựng lên hình ảnh người lính với tình đồng đội thiêng liêng chia sẻ với nhau những khó khăn, cực nhọc của một cuộc sống kháng chiến gian nan, thiếu thốn. Bài thơ "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật lại khắc họa tuổi trẻ trẻ trung, yêu đời, yêu sống tinh nghịch và đầy ước mơ, lí tưởng của những người lính chống Mĩ. Tuy có những sự khác nhau do hoàn cảnh lịch sử chi phối như vậy song những người lính trong hai bài thơ vẫn mang những đặc điểm chung đáng quý của người lính quân đội nhân dân. Đó là tấm lòng yêu nước, yêu đồng chí, đồng đội. Vì tiếng gọi của non sông tất cả đã bỏ lại phía sau những "bến nước gốc đa", những con phố, căn nhà và cả những người thân yêu nhất. Trong điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ, thiếu thốn, thì tinh thần chiến đấu cùa những người lính lại bùng lên mạnh mẽ, sục sôi khí thế. Họ không nề nguy hiểm, khó khăn, vẫn vững lòng cầm chắc tay súng để bảo vệ quê hương, đất nước: "Súng bên súng đầu sát bên đầu" "Xe vẫn chạy vì miền Nam phia trước Chỉ cần trong xe có một trái tim". Họ cùng sát cánh bên nhau, bên những người đồng đội để cùng chiến đấu dũng cảm. Nếu trong "Đồng chí" là: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay thì trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính hình ảnh đó đã trở nên thân quen: Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Không kể thiếu thốn, khó khăn, họ vẫn chấp nhận, vẫn vui vẻ lạc quan, yêu đời hơn. Cái bắt tay ấy là cả một tình đồng đội thiêng liêng, họ truyền cho nhau niềm tin chiến thắng, tình yêu và lòng dũng cảm ấy. Sống và chết, dường như trong tim mỗi người lính chiến đấu không hề có khái niệm ấy. Dù có những điểm giống và khác nhau rõ rệt nhưng điều đó càng khiến những người lính cụ Hồ hiện lên qua nhiều màu vẻ, sinh động và gần gũi. Điều đó trước hết giúp người đọc càng hiểu rõ hơn về những người lính. Hình ảnh của họ hiện lên thật đẹp đẽ, họ chính là biểu tượng, là niềm tin, khát vọng của nhân dân gửi gắm nơi họ. Ở các anh, người đọc nhận thấy một ánh sáng lí tưởng cao đẹp và thiêng liêng vô cùng. Không chỉ vậy, những nét khác biệt còn thể hiện từng phong cách riêng của mỗi tác giả trong phương thức thể hiện. Điều đó làm giàu, làm đẹp thêm cho vườn hoa nghệ thuật nước nhà.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
|
Danh sách bình luận