Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu) phân tích nội dung và nghệ thuật 4 câu thơ cuối trong đoạn trích: "Ngọn đèn khi tỏ khi mờ/Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu./Khi tựa gối, khi cúi đầu,/Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày." (Tru

Bốn câu thơ tiêu biểu trong đoạn trích "Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích" thuộc tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du khắc họa thành công tâm trạng cô đơn, buồn tủi cùng nỗi lo âu dằn vặt của Thúy Kiều giữa chốn lầu xanh vô định, qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo của đại thi hào.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý chung

I. Mở bài

Giới thiệu đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích", vị trí 4 câu thơ cuối và khái quát tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của Thúy Kiều trong đêm tối. 

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

- Hình ảnh ngọn đèn hiện lên như thế nào?

- Tâm trạng ngơ ngẩn sầu ra sao?

2. Đánh giá về nghệ thuật:

- Tác giả Nguyễn Du khéo léo mượn hình ảnh ngọn đèn để phản chiếu tâm trạng u tối, bế tắc của người con gái bạc mệnh.

- Phép điệp cấu trúc "khi... khi..." dồn dập kết hợp các thành ngữ chỉ sự đau đớn giúp nhịp thơ chậm lại, nặng nề như nhịp đập của nỗi buồn.

III. Kết bài

- Khẳng định giá trị nghệ thuật và sức sống bền bỉ của đoạn thơ trong việc khắc họa bi kịch số phận con người.

- Đoạn thơ không chỉ là tiếng lòng đau đớn của Kiều mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, sự đồng cảm sâu sắc của tác giả trước bi kịch người phụ nữ.

Dàn ý chi tiết Mẫu 1

I. Mở bài

(1) Bốn câu thơ khắc họa sâu sắc tâm trạng cô đơn, buồn tủi và sự bế tắc của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

(2) Hình ảnh “ngọn đèn khi tỏ khi mờ” gợi không gian vắng lặng, hiu hắt và tâm trạng cô đơn của Kiều.

(3) Tâm trạng ngơ ngẩn sầu: Nỗi buồn từ cảnh vật thấm sâu vào nội tâm, khiến nhân vật rơi vào trạng thái ngẩn ngơ, tê tái và bất an đến tột cùng.

(4) Hành động ngoại hiện: Điệp từ "khi" kết hợp chuỗi động từ liên tiếp "tựa gối, khi cúi đầu" diễn tả dáng vẻ mệt mỏi, bất động và sự chìm đắm trong suy tư.

(5) Nỗi đau đớn nội tâm: Cụm từ "vò chín khúc" kết hợp hình ảnh "chau đôi mày" lột tả nỗi đau đớn xé ruột xé gan và sự lo âu trĩu nặng trong lòng Thúy Kiều.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

(6) Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: Tác giả Nguyễn Du khéo léo mượn hình ảnh ngọn đèn để phản chiếu tâm trạng u tối, bế tắc của người con gái bạc mệnh.

(7) Nghệ thuật dùng từ và điệp: Phép điệp cấu trúc "khi... khi..." dồn dập kết hợp các thành ngữ chỉ sự đau đớn giúp nhịp thơ chậm lại, nặng nề như nhịp đập của nỗi buồn.

III. Kết bài

(8) Bốn câu thơ là bức tranh nội tâm chân thực, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc và tài năng nhân đạo của đại thi hào Nguyễn Du dành cho nhân vật.

(9) Khẳng định giá trị nghệ thuật và sức sống bền bỉ của đoạn thơ trong việc khắc họa bi kịch số phận con người.

Dàn ý chi tiết Mẫu 2

I. Mở bài

(1) Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du), bốn câu thơ cuối đã diễn tả sâu sắc tâm trạng đau buồn của Thúy Kiều.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

(2) Hình ảnh “ngọn đèn khi tỏ khi mờ” gợi không gian vắng lặng, hiu hắt và tâm trạng cô đơn của Kiều.

(3) Từ ngữ “ngơ ngẩn sầu” cho thấy nỗi buồn day dứt, kéo dài trong lòng nàng.

(4) Điệp từ “khi” kết hợp với các hành động “tựa gối”, “cúi đầu” diễn tả sự bồn chồn, lo lắng không yên.

(5) Hành động “vò chín khúc”, “chau đôi mày” thể hiện nỗi đau đớn, nhớ thương và tuyệt vọng của Kiều.

(6) Đoạn thơ bộc lộ rõ tâm trạng cô đơn, đau khổ của người con gái tài sắc nhưng bạc mệnh.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

(7) Tác giả sử dụng thành công hình ảnh ước lệ, giàu sức gợi cảm.

(8) Điệp từ “khi” và phép liệt kê các cử chỉ đã khắc họa sinh động diễn biến tâm trạng nhân vật.

(9) Ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu giá trị biểu cảm, thể hiện tài năng miêu tả nội tâm của Nguyễn Du.

III. Kết bài

(10) Bốn câu thơ đã thể hiện chân thực nỗi cô đơn, đau khổ của Thúy Kiều và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Dàn ý chi tiết Mẫu 3

I. Mở bài

(1) Bốn câu thơ trích từ đoạn "Kiều ở lầu Ngưng Bích" đã khắc họa thành công tâm trạng cô đơn, rối bời của Thúy Kiều trong đêm tối.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa bài thơ:

(2) Hình ảnh "ngọn đèn khi tỏ khi mờ" vừa gợi không gian đêm khuya vắng lặng, vừa chập chờn như chính ngọn lửa lòng bất an và nỗi tủi hờn của nhân vật.

(3) Từ "ngơ ngẩn sầu" kết hợp với tư thế "tựa gối", "cúi đầu" thể hiện sự bàng hoàng, bất lực và nỗi đau đớn ê chề khi rơi vào bi kịch tan vỡ tình yêu.

(4) Hành động "vò chín khúc" và "chau đôi mày" là sự dồn nén đến tột cùng của những trăn trở, lo âu cho số phận bản thân và nỗi nhớ thương gia đình.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

(5) Nguyễn Du đã sử dụng xuất sắc bút pháp tả cảnh ngụ tình, mượn ngọn đèn chập chờn để làm biểu tượng cho tâm trạng rối bời của người thiếu phụ.

(6) Điệp từ "khi" lặp lại năm lần tạo nên nhịp điệu dồn dập, khắc họa sự luẩn quẩn, bế tắc không lối thoát của Kiều giữa đêm cô đơn.

(7) Các từ ngữ giàu sức gợi hình, gợi cảm cùng nghệ thuật miêu tả hành động tinh tế đã cụ thể hóa nỗi đau nội tâm thành những biểu hiện bên ngoài.

III. Kết bài

(8) Bốn câu thơ không chỉ khẳng định tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật mà còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. 

(9) Tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc niềm cảm thương vô hạn trước số phận cay đắng của Thúy Kiều và sự trân trọng đối với tình yêu chân thành.

Dàn ý chi tiết Mẫu 4

I. Mở bài

(1) Bốn câu thơ là một nốt nhạc trầm cay đắng, lột tả trọn vẹn bi kịch cô đơn và sự bế tắc tận cùng của Thúy Kiều nơi lầu Ngưng Bích.  

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

(2) Ngọn đèn dầu thao thức cùng Thúy Kiều suốt đêm dài trở thành người bạn duy nhất chứng kiến nỗi ngơ ngẩn, sầu muộn của nàng.

(3) Những cử chỉ liên tiếp như "tựa gối", "cúi đầu" bộc lộ sự mệt mỏi cả về thể xác lẫn tâm hồn của một kiếp người gặt hái quá nhiều biến cố.

(4) Cụm từ "vò chín khúc" và "chau đôi mày" tả thực nỗi đau ruột gan như xé rách, phản ánh sự giằng xé nội tâm mãnh liệt trước tương lai mờ mịt.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

(5) Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý đi từ ngoại cảnh (ngọn đèn) đi sâu vào hình dáng bên ngoài (tựa gối, cúi đầu) rồi chạm đến đáy sâu tâm hồn (vò chín khúc).

(6) Thể thơ lục bát với nhịp ngắt linh hoạt (2/2/2, 4/4) phối hợp cùng nghệ thuật liệt kê hành động tạo nên dòng diễn tiến cảm xúc triên miên, bất tận.

(7) Sử dụng các thành ngữ, cụm từ đắt giá ("vò chín khúc", "ngơ ngẩn sầu") giúp hình tượng hóa những nỗi đau vốn mơ hồ thành diện mạo rõ nét.

III. Kết bài

(8) Đoạn thơ khẳng định vị thế kiệt tác của Truyện Kiều qua ngòi bút thấu thị tâm lý nhân vật vô cùng sắc sảo của danh nhân Nguyễn Du.

(9) Đoạn trích chạm đến trái tim độc giả, thức tỉnh sự đồng cảm sâu sắc với những kiếp người hồng nhan mà bạc mệnh trong xã hội cũ.

Dàn ý chi tiết Mẫu 5

I. Mở bài

(1) Bốn câu thơ cuối khắc họa tâm trạng cô đơn, đau khổ của Thúy Kiều trong đêm trường tăm tối, thể hiện tài năng bậc thầy trong bút pháp tả tình của đại thi hào.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

(2)Bốn câu thơ là bức tranh tâm cảnh đặc sắc, miêu tả nỗi cô đơn, buồn tủi của Kiều trong những đêm dài nơi lầu xanh.

(3) Hình ảnh "ngọn đèn khi tỏ khi mờ" vừa tả thực ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu, vừa là ẩn dụ cho tâm trạng bấp bênh, bế tắc của nàng.

(4) Từ "khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu" cho thấy nỗi sầu thương đã thấm sâu đến từng cử chỉ, suy nghĩ, khiến Kiều như lạc lõng giữa không gian riêng của chính mình.

(5) Chữ "ngơ ngẩn" đắt giá, diễn tả trạng thái mơ hồ, không định hình, vô định của một tâm hồn đang chìm trong đau khổ.

(6) Điệp từ "khi" được lặp lại năm lần như xoáy sâu vào từng biểu hiện cụ thể của nàng: "khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc, khi chau đôi mày".

(7) Hành động "vò chín khúc" là hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, gợi tả nỗi lòng đứt đoạn, trăm mối tơ vò, thể hiện sự giằng xé dữ dội bên trong tâm hồn Kiều.

(8) Hình ảnh "chau đôi mày" kết hợp với các động tác bồn chồn khác đã vẽ nên một bức chân dung tâm hồn tinh tế: đau đớn, nhẫn nhục nhưng không hề nguôi ngoai nhớ thương.

2. Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật

(9)Nguyễn Du sử dụng bút pháp tả tình đặc sắc: lấy ngoại cảnh (ngọn đèn) để khơi gợi nội tâm, lấy cử chỉ bên ngoài để khắc họa tình cảm bên trong.

III. Kết bài

(10) Khẳng định bốn câu thơ là một trong những đoạn tả tâm trạng hay nhất Truyện Kiều, vừa thể hiện nỗi đau thân phận của Kiều, vừa cho thấy tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc thấu hiểu và diễn tả thế giới nội tâm con người, để lại nỗi xót xa, đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc qua bao thế hệ.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close