Viết bài văn nghị luận phân tích tuỳ bút Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh (Vũ Bằng)

Tùy bút "Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh" của Vũ Bằng tái hiện hoài niệm thiết tha về không gian Tết truyền thống đậm đà bản sắc Bắc Bộ, qua đó bộc lộ nỗi niềm nhớ thương quê hương da diết của một người con xa xứ.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý chung

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Vũ Bằng và phần tuỳ bút "Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh"

- Nêu vấn đề cần phân tích: Vẻ đẹp của bức tranh Tết cổ truyền và tình cảm hoài niệm, tấm lòng hướng về cội nguồn sâu sắc của tác giả.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

- Bức tranh thiên nhiên và không gian ngày Tết thế nào?

- Nét đẹp phong tục, tín ngưỡng và văn hoá truyền thống hiện lên như thế nào?

- Tình cảm và tâm trạng của tác giả (Nỗi niềm hoài niệm) ra sao?

2. Đánh giá về nghệ thuật:

- Ngôn ngữ: Giàu cảm xúc, đậm chất trữ tình, dùng từ tinh tế, gieo vào lòng người đọc những rung động bâng khuâng.

- Giọng điệu: Thâm trầm, thiết tha, khi như lời trò chuyện, khi như tiếng thở dài hoài niệm.

III. Kết bài

- Văn bản là bức tranh tâm tưởng tuyệt đẹp về Tết cổ truyền và tình yêu quê hương nồng nàn của Vũ Bằng.

- Cảm nhận đọng lại: Bồi đắp thêm cho người đọc tình yêu, ý thức trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.

Dàn ý chi tiết Mẫu 1

I. Mở bài

Vũ Bằng là nhà văn nổi tiếng với những trang tùy bút giàu cảm xúc và tình yêu quê hương tha thiết. Trong tùy bút Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh, ông đã khắc họa sinh động không khí mùa xuân, ngày Tết truyền thống cùng vẻ đẹp duyên dáng của con người Việt Nam, qua đó thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê hương và văn hóa dân tộc.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

  • Bức tranh ngày Tết hiện lên tươi vui, rộn ràng với những phong tục, không khí mùa xuân đặc trưng.

  • Hình ảnh “cô mặc cái yếm xanh” tiêu biểu cho vẻ đẹp duyên dáng, trẻ trung của người con gái Việt Nam trong ngày xuân.

  • Thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với mùa xuân, Tết quê hương và những giá trị văn hóa truyền thống.

  • Gợi niềm tự hào, sự trân trọng đối với bản sắc dân tộc.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

  • Thể loại tùy bút giàu chất trữ tình, cảm xúc chân thành.

  • Ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm, đậm sắc thái dân gian.

  • Miêu tả tinh tế, kết hợp kể, tả và bộc lộ cảm xúc tự nhiên.

  • Giọng văn tha thiết, say mê, giàu chất hoài niệm.

III. Kết bài

- Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân, ngày Tết và con người Việt Nam, thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc của Vũ Bằng.

- Giúp người đọc thêm yêu và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước.

Dàn ý chi tiết Mẫu 2

I. Mở bài

Tùy bút "Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh" – một bức tranh thiên nhiên, không gian văn hóa Tết Hà Nội đượm buồn nhưng rạng rỡ hoài niệm. Tác phẩm là tiếng lòng thương nhớ không gian Tết Bắc Bộ, qua đó thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của người khách tha hương.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

  • Bức tranh thiên nhiên và không gian Tết xứ Bắc:

    • Cảnh sắc xuân xứ Bắc hiện lên qua những nét miêu tả tinh tế: cái lạnh đặc trưng, mưa xuân phơi phới, sắc hoa đào, sắc yếm xanh đầy sức sống của người thiếu nữ.

    • Tái hiện khí xao xuyến, ấm áp của những ngày cận Tết và ngày Tết cổ truyền miền Bắc với đầy đủ hương vị, phong tục truyền thống.

  • Tâm trạng và hoài niệm của tác giả (người con xa xứ):

    • Nỗi nhớ thương khắc mỏi, cào xé tâm hồn của một người đang ở miền Nam hướng về Tết quê nhà miền Bắc.

    • Tình yêu tha thiết đối với những nét đẹp văn hóa, phong tục, con người Hà Nội cổ truyền qua ký ức vẹn nguyên.

  • Ý nghĩa tư tưởng:

    • Khẳng định Tết không chỉ là một thời điểm trong năm mà là "linh hồn", là cội nguồn văn hóa kết nối con người với quê hương, đất nước.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

  • Chất trữ tình đằm thắm, tài hoa: Chất thơ nhuần nhấm trong từng câu văn xuôi; dòng cảm xúc chân thành, dạt dào như lời tâm sự ru êm.

  • Hình ảnh gợi hình, giàu sức biểu cảm: Việc lựa chọn chi tiết "cái yếm xanh", "mưa xuân", "hoa đào" mang tính biểu tượng cao cho không gian văn hóa Bắc Bộ.

  • Ngôn ngữ văn xuôi tinh tế: Lời văn giàu nhịp điệu, sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ (điệp ngữ, so sánh, nhân hóa) làm cho hoài niệm hiện lên sống động.

III. Kết bài

- Bài tùy bút là một đoạn văn tuyệt đẹp về Tết Hà Nội, khẳng định vị thế tài năng của Vũ Bằng trong dòng tùy bút trữ tình Việt Nam.

- Khơi gợi lòng trân trọng đối với nét đẹp Tết cổ truyền dân tộc và bồi đắp tình yêu đối với quê hương, cội nguồn.

Dàn ý chi tiết Mẫu 3

I. Mở bài

“Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh" với hình ảnh thơ mộng lấy cảm hứng từ câu ca dao cổ. Tác phẩm là sự hòa quyện giữa thi chất ca dao, vẻ đẹp thiên nhiên - con người và khát vọng gắn kết, đoàn tụ gia đình thiêng liêng trong ngày Tết.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

  • Cảm hứng từ ca dao và vẻ đẹp con người xuân thì:

    • Mạch cảm xúc bắt nguồn từ câu ca dao "Mới kẹp cô mặc cái yếm xanh / Sang mùng hai Tết chung quanh cái yếm hồng", tôn vinh sức sống trẻ trung, duyên dáng của người thiếu nữ miền Bắc trong dịp Tết.

    • Vẻ đẹp con người hòa quyện cùng sự đơm hoa kết trái của thiên nhiên đất trời khi xuân về.

  • Triết lý về sự đoàn tụ và mái ấm gia đình:

    • Ngày Tết là thời điểm sum họp, hàn huyên, nơi con người tìm về sự bình yên bên mái ấm.

    • Tác giả bộc lộ bi kịch cô đơn của kẻ tha hương, qua đó làm nổi bật giá trị thiêng liêng của không khí gia đình ngày Tết.

  • Ý nghĩa tư tưởng:

    • Tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn người Việt: coi trọng tình nghĩa, sự gắn kết gia đình và tình yêu thiên nhiên cuộc sống.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

  • Bút pháp tùy bút phóng khoáng: Mạch văn tự do, biến hóa theo dòng liên tưởng từ ca dao cổ đến ký ức cá nhân và thực tại.

  • Sự kết hợp giữa biểu cảm và tự sự: Nhớ lại những kỉ niệm xưa cũ kết hợp với những lời bộc bạch tâm sự sâu lắng, chạm tới trái tim người đọc.

  • Giọng điệu tha thiết, khắc mòn: Sự đan xen giữa niềm vui xuân trước vẻ đẹp đất trời và nỗi buồn man mác của hoàn cảnh xa quê.

III. Kết bài

- Tác phẩm không chỉ tái hiện một phong vị Tết cổ truyền mà còn là một bài ca về tình yêu cuộc sống, yêu cái đẹp và mái ấm gia đình.

- Kích thích người đọc biết nâng niu những khoảnh khắc sum họp bên gia đình và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Dàn ý chi tiết Mẫu 4

I. Mở bài

"Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh" là thiên tùy bút cuối cùng trong tập, ghi lại những suy ngẫm về phong tục, tập quán và không khí đón Tết cổ truyền của người Việt.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

  • Những tập tục kiêng kị ngày Tết: Không quét nhà, không đánh vỡ chén bát, không khâu vá... được các bà, các mẹ nhắc nhớ.

  • Lí giải nguồn gốc: Tết là ngày nghỉ ngơi, tưởng nhớ tổ tiên; gắn với tín ngưỡng thờ Thần Đất, nên kiêng động đến đất đai.

  • Thái độ tác giả: Dù hiểu biết, ông vẫn thực hành đầy đủ, tìm thấy niềm vui và sự đoàn kết trong các tập tục ấy.

  • Niềm tin và lạc quan: Kết thúc bằng hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, gợi hy vọng về một năm mới an lành.

2. Đánh giá về nghệ thuật:

  • Thể loại tùy bút trữ tình: Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm.

  • Ngôi kể thứ nhất: Tăng tính chân thực, gần gũi.

  • Ngôn ngữ giàu chất thơ, hình ảnh tinh tế ("mưa xanh gió tím").

  • Lập luận sắc sảo, dẫn dắt tự nhiên từ thắc mắc đến lí giải thấu đáo.

III. Kết bài

- Tác phẩm là bức tranh đẹp về Tết cổ truyền, lưu giữ giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc.

- Gợi niềm tự hào, trân trọng phong tục ông cha; khơi dậy ý thức gìn giữ và truyền lại những giá trị truyền thống cho thế hệ sau.

Dàn ý chi tiết Mẫu 5

I. Mở bài

“Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh” là một trong những áng tùy bút đặc sắc nhất của Vũ Bằng nằm trong tác phẩm Thương nhớ mười hai. Bài viết hoài niệm về cái Tết cổ truyền tại miền Bắc khi tác giả đang sống ở miền Nam, qua đó thể hiện tình yêu quê hương và nỗi nhớ gia đình da diết.

II. Thân bài

1. Phân tích nội dung và ý nghĩa:

a. Bức tranh không khí và cảnh sắc thiên nhiên Tết miền Bắc

  • Thời tiết đặc trưng: Cái rét mướt đặc trưng của mùa đông Bắc Bộ, mưa riêu riêu, gió lành lạnh nhưng không làm người ta buốt giá mà gợi sự ấm áp, sinh sôi.

  • Cảnh sắc thiên nhiên:

    • Hoa đào nở rộ, những chậu quất trĩu quả.

    • Nhang trầm thơm ngát nghi ngút khói trên bàn thờ tổ tiên.

    • Tiếng pháo nổ đì đẹt (phong tục xưa) gọi xuân về.

  • Ý nghĩa: Thiên nhiên và lòng người như hòa làm một, khơi gợi một không gian thiêng liêng, ấm cúng và đầy sức sống mới.

b. Nhịp sống con người và những phong tục tập quán ngày Tết

  • Sự nhộn nhịp, háo hức: Người người đi sắm Tết, dọn dẹp nhà cửa. Trẻ con mong chờ quần áo mới, người lớn lo toan chuẩn bị mâm cỗ.

  • Hình ảnh trung tâm (“Hỡi cô mặc cái yếm xanh”):

    • Gợi nhớ về nét đẹp của người con gái Bắc Bộ duyên dáng, lãng mạn trong trang phục truyền thống (áo tứ thân, yếm xanh).

    • Gắn liền với các lễ hội mùa xuân, tiếng hát giao duyên, đi chùa hái lộc đầu năm.

  • Mâm cỗ ngày Tết: Sự tinh tế trong ẩm thực Hà thành (bánh chưng xanh, dưa hành, giò lụa, thịt đông...). Đó không chỉ là món ăn mà là linh hồn, là văn hóa dòng tộc.

c. Tâm trạng và nỗi niềm hoài vọng của tác giả

  • Hoàn cảnh thực tại: Tác giả đang ở miền Nam, cách xa quê hương Bắc Bộ cả về địa lý lẫn không gian văn hóa.

  • Nỗi nhớ da diết:

    • Nhớ người vợ hiền thục, đảm đang nơi quê nhà (người giữ lửa cho căn bếp ngày Tết).

    • Nhớ gia đình, tổ tiên, nhớ từng góc phố, con đường Hà Nội vào xuân.

  • Sự đối lập: Giữa cái náo nhiệt, rực rỡ của nắng phương Nam với cái lạnh tình cảm, sự cô đơn của người con xa xứ hướng về một vùng trời hoài niệm.

2. Đặc sắc nghệ thuật của tùy bút

  • Chất trữ tình đậm nét: Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, chất thơ, sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm.

  • Lối viết tự nhiên, phóng khoáng: Đi theo mạch cảm xúc, dòng hồi tưởng từ hiện tại quay về quá khứ rồi lại trở về thực tại.

  • Sự kết hợp nhuần nhuyễn: Giữa tự sự (kể chuyện phong tục), miêu tả (cảnh sắc, con người) và biểu cảm (tâm trạng nhớ thương).

III. Kết bài

- Bài tùy bút là một thước phim tư liệu bằng ngôn từ vô cùng sống động và xúc động về Tết cổ truyền miền Bắc.

- Tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc niềm tự hào và ý thức giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close