Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)1. Mở đoạn: Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và đoạn trích Người lái đò sông Đà. Nêu vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp trữ tình, nên thơ và đầy gợi cảm của con sông Đà. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý 1. Mở đoạn: Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và đoạn trích Người lái đò sông Đà. Nêu vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp trữ tình, nên thơ và đầy gợi cảm của con sông Đà. 2. Thân đoạn: Vẻ đẹp tạo hình, màu sắc: Sông Đà hiện lên như một "áng tóc trữ tình" mềm mại, uyển chuyển giữa không gian núi rừng Tây Bắc. Sự thay đổi màu nước theo mùa vô cùng độc đáo: Sắc xanh ngọc bích vào mùa xuân (khác biệt với Sông Gâm, Sông Lô) và sắc đỏ giận dữ, "lừ lừ chín đỏ" vào mùa thu. Vẻ đẹp gợi cảm, có hồn: Dòng sông được nhìn nhận qua nhiều góc độ, thân thuộc như một "cố nhân" sau bao ngày xa cách ("đằm đằm ấm ấm", mang lại niềm vui vỡ oà như "nắng giòn tan"). Tính cách thất thường, sinh động của dòng sông: "lắm bệnh lắm chứng", lúc dịu dàng, khi bẳn tính gắt gỏng. Đặc sắc nghệ thuật: Sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa độc đáo, giàu hình ảnh. Ngôn ngữ tinh tế, đậm chất điện ảnh, tài hoa và uyên bác của Nguyễn Tuân. 3. Kết đoạn: Khái quát lại vẻ đẹp trữ tình của sông Đà. Khẳng định tài hoa nghệ thuật và tình yêu thiên nhiên đất nước sâu sắc của nhà văn Nguyễn Tuân. Bài siêu ngắn Mẫu 1 Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà không chỉ là một dòng chảy vô tri mà hiện lên như một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ của tạo hóa. Dòng sông tuôn dài mềm mại như "một áng tóc trữ tình" vắt ngang núi rừng Tây Bắc nên thơ. Điều làm nên sức hút riêng của sông Đà chính là sự đổi thay kỳ diệu của sắc nước theo thời gian: mùa xuân hiện lên với sắc xanh ngọc bích trong trẻo, thanh tao, khác hẳn màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô; để rồi khi thu về, nước sông lại chuyển thành màu đỏ quánh, "lừ lừ chín đỏ" như tâm trạng của một người đầy bất mãn, giận dữ. Bằng nghệ thuật so sánh táo bạo, liên tưởng độc đáo cùng kho tàng ngôn ngữ giàu chất hội họa, Nguyễn Tuân đã thổi hồn vào thiên nhiên, biến sông Đà thành một biểu tượng cho vẻ đẹp kỳ vĩ mà nên thơ của đất nước. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Đoạn trích là minh chứng cho tình yêu tha thiết và sự thấu hiểu sâu sắc của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên Tây Bắc. Sông Đà qua cảm nhận của nhà văn mang vẻ đẹp gợi cảm kỳ lạ, vượt lên trên khuôn khổ của một cảnh vật thông thường để trở thành một "cố nhân" tri kỷ. Sau những ngày dài đằng đẵng đi rừng, sự xuất hiện bất ngờ của dòng sông với ánh nắng tháng Ba loang loáng, rực rỡ mang lại thứ cảm xúc vỡ òa, "đằm đằm ấm ấm" như được đoàn tụ sau cơn mơ dài. Đặc biệt, nghệ thuật nhân hóa tài tình đã phơi bày cả tính cách sống động của dòng sông: lúc dịu dàng đằm thắm, chốc lại "lắm bệnh lắm chứng" bẳn tính, gắt gỏng ngay ở khúc thác lũ. Qua đó, nhà văn không chỉ khắc họa thành công một sinh thể có hồn mà còn bộc lộ cái tôi uyên bác, đầy đắm say trước vẻ đẹp quê hương. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Viết về sông Đà, Nguyễn Tuân đã huy động tối đa vốn văn hóa phong phú cùng nhãn quan đậm chất điện ảnh để tạc nên một kiệt tác của thể tùy bút. Sông Đà hiện lên với hai vẻ đẹp đối lập nhưng hòa hợp đến kỳ lạ: vừa mềm mại, nên thơ qua hình ảnh "áng tóc trữ tình" ẩn hiện giữa khói núi Mèo và hoa ban, lại vừa mang nội tâm phong phú, thất thường qua sắc nước chuyển màu theo mùa. Từ màu xanh ngọc bích của mùa xuân đến sắc đỏ giận dữ của mùa thu, dòng sông hiện thân như một con người có cá tính mạnh mẽ, có lúc thân tình như "cố nhân", có lúc lại ương ngạnh "lắm chứng lắm bệnh". Bằng sự kết hợp nhịp nhàng giữa miêu tả và biểu cảm, đoạn văn không chỉ làm nổi bật chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc mà còn khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo, uyên bác của một cây bút lớn trong nền văn học Việt Nam. Bài tham khảo Mẫu 1 Đoạn trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà đã khắc họa thành công một con sông Đà không chỉ hung bạo, dữ dội mà còn mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng và đầy gợi cảm. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, dòng sông hiện lên như "một áng tóc trữ tình" uốn lượn giữa núi rừng Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo. Vẻ đẹp ấy còn được tô điểm qua sự biến đổi kỳ diệu của sắc nước: màu xanh ngọc bích thanh tao vào mùa xuân và sắc đỏ giận dữ, "lừ lừ chín đỏ" khi thu về. Đặc biệt, sông Đà không vô tri mà gợi cảm đến lạ kỳ, được nhà văn cảm nhận thân thiết như một "cố nhân". Gặp lại sông Đà sau chuỗi ngày đi rừng, cảm giác "đằm đằm ấm ấm" trào dâng, vỡ oà niềm vui như "nắng giòn tan". Qua nghệ thuật nhân hóa, so sánh độc đáo cùng kho tàng ngôn ngữ giàu có, uyên bác, Nguyễn Tuân đã thổi hồn vào thiên nhiên, biến sông Đà thành một sinh thể có tâm hồn, tính cách "lắm bệnh lắm chứng" nhưng vô cùng quyến rũ, qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết dành cho non sông đất nước. Bài tham khảo Mẫu 2 Đoạn trích Người lái đò sông Đà đã cho thấy một phát hiện đầy tinh tế của Nguyễn Tuân: đằng sau vẻ hung bạo của núi rừng Tây Bắc là một dòng Đà giang mang vẻ đẹp trữ tình, biến ảo như một sinh thể có tâm hồn. Dòng sông trước hết gây ấn tượng bởi dáng hình mềm mại “như một áng tóc trữ tình”, trải dài giữa mây trời, hoa ban, hoa gạo và khói núi. Thiên nhiên ấy khiến sông Đà không còn vô tri mà trở thành một nét duyên của miền Tây Bắc. Đặc biệt, màu nước sông thay đổi theo thời gian, tạo nên những sắc thái riêng biệt: mùa xuân là màu “xanh ngọc bích” trong veo, mùa thu lại “lừ lừ chín đỏ” như một gương mặt đang chất chứa nỗi niềm. Với Nguyễn Tuân, con sông ấy còn là “cố nhân” – một người bạn cũ sau bao ngày xa cách. Niềm vui của nhà văn khi gặp lại sông Đà được diễn tả bằng những so sánh rất đỗi độc đáo: “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Qua đó, sông Đà hiện lên vừa đẹp, vừa gần gũi, vừa có cá tính riêng. Chính tình yêu thiên nhiên tha thiết và con mắt nghệ sĩ tài hoa đã giúp Nguyễn Tuân khám phá vẻ đẹp độc đáo của dòng sông quê hương. Bài tham khảo Mẫu 3 Sông Đà trong trang văn Nguyễn Tuân tựa như một dải lụa khổng lồ vắt giữa đại ngàn, mang trong mình vẻ đẹp vừa mơ màng, vừa quyến rũ. Nếu ở một phương diện khác, dòng sông là sức mạnh dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc, thì trong đoạn trích này, nó lại hiện ra với dáng vẻ mềm mại và giàu chất thơ. Hình ảnh “một áng tóc trữ tình” đã khiến dòng sông như một thiếu nữ Tây Bắc đang thả mái tóc dài giữa mây trời, hoa lá và khói núi. Đặc biệt, sông Đà không đứng yên trong một sắc màu mà luôn biến đổi theo mùa: khi thì “xanh ngọc bích” thanh tân, lúc lại “lừ lừ chín đỏ” đầy ám ảnh. Vẻ đẹp ấy còn trở nên gần gũi hơn qua cảm nhận của người nghệ sĩ: sông Đà “gợi cảm”, khiến ông bất chợt thấy vui sướng như được gặp lại một “cố nhân” sau những ngày xa cách. Những liên tưởng bất ngờ, những câu văn giàu nhạc tính và cảm xúc đã làm cho cảnh sắc thiên nhiên trở nên có hồn. Đằng sau từng câu chữ là tình yêu say đắm của Nguyễn Tuân đối với non sông đất nước. Bởi vậy, sông Đà không chỉ là một dòng nước giữa núi rừng mà còn là một tuyệt tác của thiên nhiên Tây Bắc được nhìn qua đôi mắt tài hoa của người nghệ sĩ. Bài tham khảo Mẫu 4 Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng cái nhìn tài hoa của người nghệ sĩ để đánh thức vẻ đẹp trữ tình vốn ẩn sâu trong dòng sông Tây Bắc. Sông Đà trước hết hiện ra với một dáng hình mềm mại, duyên dáng: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”. Điệp từ “tuôn dài” kết hợp với hình ảnh so sánh đã làm dòng sông như kéo dài bất tận giữa tầng mây, sắc hoa và khói núi, vừa thực vừa mộng. Nhưng vẻ đẹp của sông Đà không đóng khung trong một dáng hình bất biến mà luôn chuyển mình theo mùa. Mùa xuân, dòng nước “xanh ngọc bích”, một sắc xanh trong trẻo, thanh tân; đến mùa thu, nó lại “lừ lừ chín đỏ”, mang theo vẻ đậm đà, nồng nàn và có phần dữ dội. Đặc biệt, trong cảm nhận của Nguyễn Tuân, sông Đà không còn là cảnh vật vô tri mà trở thành một “cố nhân” có thể sẻ chia cùng con người. Sau những tháng ngày rong ruổi giữa núi rừng, được gặp lại dòng sông, nhà văn cảm nhận một niềm vui “đằm đằm ấm ấm”. Qua đó, thiên nhiên Tây Bắc hiện lên không chỉ đẹp mà còn có linh hồn, có ký ức và khả năng đánh thức những rung động sâu xa trong lòng người. Bài tham khảo Mẫu 5 Có thể nói, một trong những thành công đặc sắc của Nguyễn Tuân trong Người lái đò sông Đà là đã nhìn thấy ở cùng một dòng sông những sắc thái tưởng như đối lập: khi dữ dằn, lúc dịu êm; khi xa lạ, khi thân thiết như một người tri kỉ. Trong đoạn trích, vẻ đẹp trữ tình của sông Đà được mở ra trước hết từ không gian Tây Bắc giàu chất họa: mây trời, hoa ban, hoa gạo, khói núi hòa quyện quanh “áng tóc trữ tình” của dòng sông. Đó là một bức tranh thiên nhiên vừa khoáng đạt vừa nên thơ. Màu nước cũng trở thành phương tiện để nhà văn khám phá tính cách của sông Đà. Sắc “xanh ngọc bích” của mùa xuân gợi sự tươi non, tinh khiết; sắc “đỏ” của mùa thu lại khiến dòng sông như mang trong mình một nguồn năng lượng âm thầm mà mãnh liệt. Tuy nhiên, điều làm nên chiều sâu của hình tượng không chỉ nằm ở cảnh sắc mà còn ở mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên. Nguyễn Tuân gọi sông Đà là “cố nhân”, bởi dòng sông đem đến cho ông cảm giác thân thuộc sau những ngày dài xa cách. Những liên tưởng bất ngờ, giàu chất thơ đã chứng minh sức mạnh của một tâm hồn nghệ sĩ luôn biết tìm kiếm vẻ đẹp ở những điều tưởng như quen thuộc. Nhờ vậy, sông Đà trở thành một hình tượng thiên nhiên có cá tính và sức sống riêng. Bài tham khảo Mẫu 6 Đọc đoạn văn viết về sông Đà, người đọc có cảm giác như đang đứng trước một bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng ánh sáng, màu sắc và cả nhịp rung của tâm hồn. Nguyễn Tuân không quan sát dòng sông bằng cái nhìn lạnh lùng của người ghi chép mà đón nhận nó bằng tất cả sự say mê của một nghệ sĩ trước cái đẹp. Sông Đà hiện lên “tuôn dài tuôn dài”, mềm mại như một mái tóc giữa đại ngàn; phía trên là mây trời Tây Bắc, phía dưới là những sắc nước biến thiên theo mùa. Đáng chú ý, nhà văn không bằng lòng với những màu sắc quen thuộc mà tìm cho dòng sông một vẻ đẹp riêng: mùa xuân “xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”. Những sắc màu ấy không chỉ tả nước mà còn gợi thần thái, tính khí của dòng sông, khiến thiên nhiên mang dáng dấp của một con người. Và rồi, từ cảnh vật, ngòi bút Nguyễn Tuân chuyển sang miền cảm xúc: sông Đà trở thành “cố nhân”, một người bạn cũ đem đến niềm vui ấm áp sau những ngày xa cách. Cách ví von “nắng giòn tan”, “nối lại chiêm bao đứt quãng” cho thấy trí tưởng tượng phóng túng và khả năng cảm nhận tinh tế của nhà văn. Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc mà còn thể hiện tình yêu tha thiết đối với đất nước: càng đi sâu vào cảnh sắc quê hương, ông càng nhận ra những vẻ đẹp kỳ diệu đang âm thầm hiện hữu quanh mình. Bài tham khảo Mẫu 7 Nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta nhớ ngay đến một ngòi bút say mê cái đẹp, luôn săn lùng những cảm giác mạnh và sự tinh tế tột cùng của ngôn từ. Đoạn trích Người lái đò sông Đà đã khắc họa thành công một dòng sông không chỉ hung bạo ở thượng nguồn mà còn mang vẻ đẹp trữ tình, nên thơ đến nao lòng. Dưới lăng kính của nhà văn, con sông Đà tuôn dài mềm mại như "một áng tóc trữ tình", ẩn hiện giữa mây trời Tây Bắc bạt ngàn hoa ban, hoa gạo và cuồn cuộn khói nương xuân. Đặc biệt, sức hút của dòng sông còn đến từ sự biến ảo khôn lường của sắc nước theo mùa. Mùa xuân, nước sông xanh ngọc bích trong trẻo, thanh tao khác hẳn sắc xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô; để rồi khi thu về, dòng nước lại lừ lừ chín đỏ như tâm trạng của một người bực bội, bất mãn. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật so sánh táo bạo, liên tưởng độc đáo cùng kho tàng văn hóa phong phú, Nguyễn Tuân đã thổi hồn vào thiên nhiên, biến sông Đà thành một tác phẩm nghệ thuật kỳ vĩ, qua đó bộc lộ cái tôi uyên bác, tài hoa và tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Bài tham khảo Mẫu 8 Đọc đoạn trích Người lái đò sông Đà, ta không chỉ bắt gặp một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà còn cảm nhận được một chiều sâu tâm hồn đầy tinh tế qua góc nhìn của Nguyễn Tuân. Vượt lên khuôn khổ của một cảnh vật vô tri, sông Đà được nhà văn cảm nhận thân thiết như một "cố nhân" sau bao ngày xa cách. Cái khoảnh khắc tình cờ trôi dạt xuống dốc núi, bắt gặp miếng sáng lóe lên nắng tháng Ba Đường thi, rồi vỡ òa cảm giác vui sướng "như nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm", "đằm đằm ấm ấm" đã thể hiện sự gắn bó keo sơn giữa con người và dòng sông. Đáng chú ý hơn cả là nghệ thuật nhân hóa đỉnh cao khi nhà văn phơi bày cả tính cách, nội tâm sinh động của dòng sông: lúc dịu dàng đằm thắm, chốc lại "lắm bệnh lắm chứng" bẳn tính và gắt gỏng ngay ở những khúc thác lũ. Dòng sông ấy hiện lên như một sinh thể sống động, có cá tính mạnh mẽ, biết hờn ghen, giận dỗi. Qua đó, nhà văn không chỉ làm sáng lên chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc mà còn khẳng định tài năng bậc thầy trong nghệ thuật khai thác nội tâm cảnh vật của văn học Việt Nam. Bài tham khảo Mẫu 9 Khảo sát phong cách Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò sông Đà, đoạn trích về dòng sông trữ tình chính là minh chứng tiêu biểu cho sự kết hợp hoàn hảo giữa chất họa, chất thơ và chất trữ tình sâu lắng. Nhà văn đã tạc nên một diện mạo sông Đà vô cùng phong phú, nơi sự mềm mại, nên thơ hòa quyện hài hòa với tính cách dữ dội, thất thường. Từ hình ảnh thơ mộng của "áng tóc trữ tình" vắt ngang qua mùa xuân hoa ban bung nở, cho đến sự chuyển màu ngoạn mục từ sắc xanh ngọc bích sang sắc đỏ giận dữ của mùa thu, tất cả đều hiện lên dưới nhãn quan đậm chất điện ảnh. Đặc biệt, sự phẫn nộ đầy trí tuệ của nhà văn trước cái tên "láo lếu" mà thực dân Pháp từng đặt cho dòng sông đã cho thấy lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. Bằng ngôn ngữ sắc sảo, giàu nhịp điệu cùng sự am hiểu tường tận về địa lý, văn hóa, Nguyễn Tuân đã nâng tầm sông Đà trở thành biểu tượng cho sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp vĩnh cửu của non sông đất nước, để lại dư âm vang mãi trong lòng người đọc nhiều thế hệ. Bài tham khảo Mâu 10 Trong Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân không chỉ khắc họa một dòng sông dữ dội mà còn phát hiện ở sông Đà một vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng đến say lòng. Trước hết, dòng sông hiện lên mềm mại, duyên dáng qua hình ảnh so sánh đầy chất họa: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”, khiến sông Đà như mái tóc khổng lồ của thiếu nữ Tây Bắc đang buông mình giữa mây trời. Vẻ đẹp ấy còn biến đổi theo mùa: mùa xuân, nước sông “xanh ngọc bích”, trong trẻo, tươi non; mùa thu lại “lừ lừ chín đỏ”, mang một sắc màu vừa nồng nàn vừa dữ dội. Không chỉ đẹp, sông Đà còn “gợi cảm”, có khả năng đánh thức những rung động sâu xa trong tâm hồn người nghệ sĩ. Sau những ngày dài giữa núi rừng, bắt gặp dòng sông, Nguyễn Tuân có cảm giác như gặp lại “một cố nhân”: thân thuộc, ấm áp và đáng nhớ. Bằng ngòi bút tài hoa, liên tưởng phong phú cùng ngôn ngữ giàu nhạc điệu, nhà văn đã biến sông Đà từ một cảnh vật thiên nhiên thành một sinh thể có tâm hồn, lúc dịu dàng, lúc bẳn tính, nhưng luôn quyến rũ và đầy sức sống.
|






Danh sách bình luận