Đọc hiểu Sự tích cây khế | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

Ngày xưa, có hai anh em cha mẹ mất sớm. Đến lúc chia gia tài, người anh cậy thế mình là anh cả chiếm hết mọi tài sản cha mẹ để lại, chỉ cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế ở cuối vườn. Người em cặm cụi làm thuê cuốc mướn kiếm sống và chăm sóc cây khế.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

SỰ TÍCH CÂY KHẾ

Ngày xưa, có hai anh em cha mẹ mất sớm. Đến lúc chia gia tài, người anh cậy thế mình là anh cả chiếm hết mọi tài sản cha mẹ để lại, chỉ cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế ở cuối vườn.

Người em cặm cụi làm thuê cuốc mướn kiếm sống và chăm sóc cây khế. Đến mùa, khế ra hoa kết trái nhiều vô kể. Bỗng một hôm có một con chim lạ bay đến đậu lại trên cây khế. Nó ăn hết trái này đến trái khác. Người em buồn rầu nói với chim: “Cuộc sống ta chỉ trông nhờ vào cây khế. Chim ăn hết ta lấy gì sinh sống!” Nghe vậy chim liền nói: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, đem đi mà đựng!”.

Nghe lời chim dặn, người em may một cái túi ba gang. Hôm sau, chim đến chở người em ra một cái đảo xa tít ở ngoài khơi. Đây là một hòn đảo có đầy vàng bạc châu báu. Người em nhặt đầy một túi ba gang rồi leo lên lưng chim trở về nhà. Từ đó, người em trở nên giàu có nhất vùng.

Thấy em mình bỗng nhiên trở nên giàu có, người anh lân la, tò mò hỏi chuyện. Thương anh, người em kể hết sự tình cho người anh hay. Máu tham nổi lên, hắn gạ người em đổi cây khế lấy toàn bộ gia tài của hắn. Người em đồng ý.

Ngày ngày, cả hai vợ chồng người anh canh chừng dưới cây khế. Rồi chim lạ lại đến ăn khế. Người anh giả vờ kêu nghèo kể khổ với đại bàng và cũng được đại bàng nói những lời như đã nói với người em trước đây. Hắn về nhà bảo vợ may một cái túi mười hai gang.

Sáng hôm sau, chim lạ lại đến và chở hắn ra đảo vàng. Hắn hoa mắt trước vàng bạc, châu báu, ngọc ngà ở đảo nên cố nhét thật đầy cái túi mười hai gang. Chưa thỏa mãn, hắn còn cố nhét vàng vào trong người rồi kéo lê túi vàng leo lên lưng chim. Chim phải vỗ cánh đến ba lần mới cất mình lên được. Khi bay qua giữa đại dương mênh mông, bất thần có một cơn gió mạnh thổi đến vì chở quá nặng nên chim không chịu được sức gió, liền nghiêng cánh hất túi vàng và người anh xuống biển.

(Truyệnchobe.com)

Câu 1

Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào cách người kể chuyện gọi tên nhân vật và xác định người kể có trực tiếp tham gia vào các sự việc trong câu chuyện hay không.

Lời giải chi tiết

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.

Giải thích:

Người kể chuyện không trực tiếp xưng “tôi” mà gọi các nhân vật bằng “người em”, “người anh”, “hắn”, “chim lạ”. Người kể đứng ngoài câu chuyện để thuật lại các sự việc xảy ra với nhân vật.

Mở rộng

Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.

Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Câu 2

Người anh chia cho người em những gì khi ra ở riêng?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Tìm chi tiết trong phần đầu văn bản kể về việc chia gia tài giữa hai anh em.

Lời giải chi tiết

Khi ra ở riêng, người anh chiếm hết mọi tài sản cha mẹ để lại và chỉ chia cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế ở cuối vườn.

Giải thích:

Việc người anh chia tài sản cho người em được nhắc đến trực tiếp trong văn bản: “Đến lúc chia gia tài, người anh cậy thế mình là anh cả chiếm hết mọi tài sản cha mẹ để lại, chỉ cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế ở cuối vườn.”

Câu 3

Phân loại từ láy và từ ghép cho các từ sau: “mênh mông, vàng bạc, lân la, tò mò, sinh sống”. Giải thích nghĩa các từ láy.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong mỗi từ để phân biệt từ láy và từ ghép; sau đó dựa vào ngữ cảnh để giải thích nghĩa của các từ láy.

Lời giải chi tiết

- Từ láy: “mênh mông, lân la”.

- Từ ghép: “vàng bạc, tò mò, sinh sống”.

- “Mênh mông”: rộng lớn, bao la, trải ra đến mức khó xác định được giới hạn.

- “Lân la”: tìm cách đến gần hoặc tiếp cận một cách tự nhiên, thân mật để dò hỏi, làm quen hoặc đạt được mục đích.

Giải thích:

“Mênh mông” có sự lặp lại về âm đầu m, tạo sắc thái gợi hình về không gian rộng lớn. “Lân la” có sự phối hợp âm thanh giữa hai tiếng, diễn tả hành động tìm cách đến gần, tiếp cận. Các từ “vàng bạc”, “tò mò”, “sinh sống” được tạo bởi những tiếng có quan hệ về nghĩa nên thuộc từ ghép.

Mở rộng

- Từ láy là cấu tạo đặc biệt của từ phức, được tạo thành bởi hai tiếng trở lên, trong đó phối hợp những tiếng có âm đầu hoặc vần hoặc cả âm đầu và vần.

- Trong tiếng Việt, từ láy có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng. Tuy nhiên, láy hai tiếng là loại từ láy tiêu biểu của tiếng Việt.

- Từ láy được chia thành 2 loại:

+ Từ láy toàn bộ: Là loại từ được láy giống nhau cả phần âm, vần, dấu câu.

+ Từ láy bộ phận: Là loại từ được láy giống phần âm hoặc phần vần, dấu câu có thể giống hoặc khác tuỳ vào cách người dùng muốn

- Tác dụng của từ láy được dùng để miêu tả nhấn mạnh vẻ đẹp của phong cảnh, hình dáng của sự vật hoặc diễn đạt cảm xúc, tâm trạng, trình trạng, âm thanh … của con người, của sự vật và hiện tượng trong cuộc sống. Từ đó, mang đến cho con người một cái nhìn đa chiều và sâu sắc đối với vấn đề được nói đến.

Link tham khảo:

Từ láy là gì? Tác dụng của từ láy

Bài tập trắc nghiệm từ láy

- Những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép.

- Từ ghép có công dụng giúp người sử dụng dễ dàng biểu đạt các ý kiến của mình và đây cũng chính là một công cụ quan trọng để xác định nghĩa của các từ trong cả văn nói và văn viết một cách chính xác, khiến câu văn trở nên logic hơn về cả yếu tố nội dung và hình thức.

Link tham khảo: Từ ghép là gì? Đặc điểm của từ ghép

Câu 4

Qua việc may túi theo lời chim dặn và được chim đưa đi lấy vàng ở đảo xa, người em đã thể hiện phẩm chất gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào lời nói, hành động và cách ứng xử của người em trong sự việc được nêu để nhận xét về phẩm chất của nhân vật.

Lời giải chi tiết

- Người em hiền lành, thật thà.

- Biết đủ, không tham lam.

- Biết nghe lời và có tấm lòng sẻ chia.

Giải thích:

Khi được chim đưa đến đảo vàng, người em chỉ nhặt đầy một túi ba gang đúng như lời chim dặn rồi trở về, không cố lấy thêm vàng bạc. Sau khi trở nên giàu có, người em còn kể lại sự việc cho anh biết và đồng ý đổi cây khế cho anh. Những hành động đó cho thấy người em hiền lành, thật thà, không tham lam và biết chia sẻ.

Mở rộng

- Truyện cổ tích là thể loại truyện kể dân gian, kết quả của trí tưởng tượng dân gian, thể hiện cách nhìn, cách nghĩ của người xưa đối với cuộc sống, đồng thời nói lên ước mơ về một xã hội công bằng, tốt đẹp.

- Truyện kể về những xung đột trong gia đình, xã hội, phản ánh số phận của các cá nhân, thể hiện ước mơ đổi thay số phận.

- Đặc điểm của truyện cổ tích:

+ Cốt truyện: thường mở đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa”, sử dụng yếu tố kì ảo và kết thúc có hậu

+ Đề tài: hiện tượng đời sống

+ Chủ đề: ước mơ về một xã hội công bằng

+ Ngôi kể: ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba

+ Nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho các kiểu người khác nhau trong xã hội, thường được chia làm hai tuyến: chính diện (tốt, thiện) và phản diện (xấu, ác)

Một số link tham khảo:

Truyện cổ tích là gì? Một số yếu tố của truyện truyền thuyết

Đặc điểm nhân vật, lời của người kể trong truyện truyền thuyết

Câu 5

Từ nội dung câu chuyện, em hãy trình bày những việc làm để giúp học sinh sống trung thực, thật thà.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào ý nghĩa của câu chuyện, đề xuất những việc làm cụ thể.

Lời giải chi tiết

Gợi ý:

- Nói đúng sự thật, không nói dối, không che giấu lỗi lầm.

- Trung thực trong học tập, không quay cóp, gian lận trong kiểm tra, thi cử.

- Biết nhận lỗi và sửa lỗi khi mắc sai lầm.

- Không chiếm đoạt hoặc sử dụng đồ của người khác khi chưa được cho phép.

- Giữ lời hứa, có trách nhiệm với lời nói, việc làm của mình.

Giải thích:

Trung thực, thật thà là những phẩm chất giúp con người tạo được niềm tin và sự tôn trọng từ mọi người. Vì vậy, học sinh cần rèn luyện sự trung thực bằng cách đúng sự thật, không gian lận trong học tập, dám nhận lỗi và sửa sai,...

  • Đọc hiểu Cây khế | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

    Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Khi người anh lấy vợ, người anh không muốn ở chung với em nữa, nên quyết định chia gia tài. Người anh tham lam chiếm hết cả nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò của cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt.

  • Đọc hiểu Sự tích cây khế | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

    Ngày xưa, có hai anh em cha mẹ mất sớm. Đến lúc chia gia tài, người anh cậy thế mình là anh cả chiếm hết mọi tài sản cha mẹ để lại, chỉ cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế ở cuối vườn. Người em cặm cụi làm thuê cuốc mướn kiếm sống và chăm sóc cây khế.

  • Đọc hiểu Sự tích hoa cúc trắng | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

    Ngày xưa, có một gia đình nghèo gồm hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của họ bình yên trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ hàng ngày tần tảo làm lụng nuôi con. Người con thì cũng hiếu thảo, biết vâng lời mẹ và chăm chỉ học hành.

  • Đọc hiểu Sự tích cây vú sữa | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

    1. Ngày xưa, có một cậu bé ham chơi. Một lần, bị mẹ mắng, cậu vùng vằng bỏ đi. Cậu la cà khắp nơi, chẳng nghĩ đến mẹ ở nhà mỏi mắt chờ mong. 2. Một hôm, vừa đói vừa rét, cậu mới tìm đường về nhà. Ở nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu.

  • Đọc hiểu Tấm Cám | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

    Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ, chị tên là Tấm, em tên là Cám. Mẹ Tấm mất sớm, sau đó mấy năm cha Tấm cũng qua đời, Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám. Bà mẹ kế này rất cay nghiệt, bắt Tấm phải làm hết mọi việc nặng nhọc từ việc nhà đến việc chăn trâu cắt cỏ. Trong khi đó Cám được nuông chiều không phải làm gì cả.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close