Đọc hiểu Chế học trò ngủ gật (Nguyễn Khuyến) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: CHẾ HỌC TRÒ NGỦ GẬT Trò trẹt chi bay học cạnh thầy Gật gà gật gưỡng nực cười thay! Giọng khê nồng nặc không ra tiếng, Mắt lại lim dim nhắp đã cay. Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: CHẾ HỌC TRÒ NGỦ GẬT Trò trẹt chi bay học cạnh thầy Gật gà gật gưỡng nực cười thay! Giọng khê nồng nặc không ra tiếng, Mắt lại lim dim nhắp đã cay. Đồng nổi(1) đâu đây la liệt đảo, Ma men(2) chi đấy tít mù say. Dễ thường bắt chước Chu Y(3) đó, Quyển có câu thần vậy gật ngay. (Thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn Học, 2010, tr. 13) Chú thích: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), quê xã Yên Đổ, nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thuở nhỏ nhà nghèo nhưng vốn tính thông minh lại học giỏi nên khi đi thi đều đỗ đầu cả ba kì thi: Hương, Hội, Đình. Do đó ông được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Nhà thơ Nguyễn Khuyến được biết đến là một vị quan có phẩm chất trong sạch, mặc dù làm quan nhưng ông nổi tiếng là người rất thanh liêm, chính trực. Ông làm quan khoảng mười năm, đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Bộ liền cáo quan về ở ẩn. (1) Đồng nổi: tức lên đồng. Cả câu ý nói: học trò ngủ gật, lảo đảo như lên đồng. (2) Ma men: chỉ người nghiện rượu (3) Chu Y: Người mặc áo đỏ. Âu Dương Tu đời Tống lúc làm quan chấm thi, thường thấy một người mặc áo đỏ đứng trước mặt, thỉnh thoảng lại gật đầu, mà lúc nào gật là trong quyển đang chấm có một câu văn xuất thần. Lúc đầu ông tưởng có kẻ nha lại đứng hầu đâu đó, nhưng sau nhìn kỹ thì không có ai cả. Thơ Trung Quốc có câu "Văn chương tự cổ vô bằng cứ/ Đãn nguyện chu y ám điểm đầu" (Văn chương từ xưa không lấy gì làm bằng cứ, Chỉ mong được người áo đỏ đứng xó tối gật đầu cho mà thôi).
Câu 1
Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Phương pháp giải
Dựa vào đặc trưng thể loại Lời giải chi tiết
Thể thơ: Thất ngôn bát cú. Giải thích: Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu có 7 tiếng, được tổ chức theo đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Mở rộng
- Về bố cục: Bài thơ thất ngôn bát cú gồm bốn cặp câu thơ, thường tương ứng với bốn phần: để (triển khai ý ẩn chứa trong nhan đề), thực (nói rõ các khía cạnh chính của đối tượng được bài thơ đề cập), luận (luận giải, mở rộng suy nghĩ về đối tượng), kết (thâu tóm tinh thần của cả bài, có thể kết hợp mở ra những ý tưởng mới). Khi đọc hiểu, cũng có thể vận dụng cách chia bố cục bài thơ thành hai phần: bốn câu đầu, bốn câu cuối hoặc sáu câu đầu, hai câu cuối. - Về luật bằng trắc và niêm: Bài thơ phải sắp xếp thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và cả bài theo quy định chặt chẽ. Quy định này được tính từ chữ thứ 2 của câu thứ nhất: Nếu chữ này là thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, là thanh trắc thi bài thơ thuộc luật trắc. Để đảm bảo sự hài hoà, cân bằng, trong mỗi câu, các thanh bằng, trắc đan xen nhau (bắt buộc ở chữ thứ 2, 4, 6) và trong mỗi cặp câu (còn gọi là liên), các thanh bằng, trắc phải ngược nhau. Về niêm, hai liên thơ liền nhau được “dính” theo nguyên tắc: Chữ thứ 2 của câu chắn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc liên dưới. - Về vần và nhịp: Bài thơ thất ngôn bát cú chỉ gieo một vẫn là vần bằng ở chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8; riêng vẫn của câu thứ nhất có thể linh hoạt. Câu thơ trong bài thất ngôn bát cú thường ngắt theo nhịp 4/3. - Về đối: Bài thơ thất ngôn bát cú chủ yếu sử dụng phép đối ở hai câu thực và hai câu luận. Link tham khảo: Thơ thất ngôn bát cú
Câu 2
Đối tượng của tiếng cười trong bài thơ là ai? Xem lời giải
Câu 3
Chỉ ra các từ láy tượng hình có trong bài thơ và nêu tác dụng của việc sử dụng các từ láy đó? Xem lời giải
Câu 4
Chỉ ra và nêu tác dụng của phép đối được sử dụng trong hai câu thơ sau: “Giọng khê nồng nặc không ra tiếng, Mắt lại lim dim nhắp đã cay” Xem lời giải
Câu 5
Từ nội dung bài thơ trên, em hãy kể những việc nên làm của học sinh khi đến trường? Xem lời giải
|

Xem lời giải





Danh sách bình luận