Đọc hiểu Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà đòi bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau!

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sĩ mắng triểu đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà đòi bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

(Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn)

Câu 1

Khái quát nội dung chính đoạn trích

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ đoạn trích, xác định nội dung chính được triển khai và cảm xúc, thái độ của người viết.

Lời giải chi tiết

Đoạn trích tố cáo tội ác và sự ngang ngược của quân giặc, qua đó bộc lộ lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần sẵn sàng hi sinh của Trần Quốc Tuấn.

Giải thích:

Đoạn trích trước hết khắc họa những hành động ngang ngược, tham lam của sứ giặc như “nghênh ngang ngoài đường”, “sỉ mắng triều đình”, “bắt nạt tể phụ”, liên tục đòi hỏi vàng bạc, ngọc lụa. Trước tình cảnh đất nước bị đe dọa và xúc phạm, Trần Quốc Tuấn bộc lộ nỗi đau đớn, căm tức đến mức “tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối”, đồng thời khẳng định quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hi sinh để tiêu diệt quân thù. Vì vậy, nội dung đoạn trích tập trung làm nổi bật lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí chống ngoại xâm của vị chủ tướng.

Mở rộng

Hịch là một thể văn thư cổ mà các tướng lĩnh, vua chúa hoặc người thủ lĩnh một tổ chức, một phong trào dùng để kêu gọi cổ vũ mọi người hăng hái chiến đấu tiêu diệt kẻ thù. Như vậy, hịch không phải là thể văn được sử dụng thông dụng trong thời bình như chiếu, phú, tấu, sớ... về hình thức, hịch thường được viết theo lối văn tứ lục, cũng có khi viết bằng văn xuôi hay thơ lục bát. Một bài hịch thường được cấu trúc theo ba phần chính: Phần đầu nêu lên một nguyên lí đạo đức hay chính trị làm cơ sở tư tưởng, lí luận; phần giữa nêu thực trạng đáng chú ý (thường là kể tội kẻ thù); phần cuối nêu giải pháp và lời kêu gọi chiến đấu.

Link tham khảo: Thể loại hịch

Câu 2

Sự ngang ngược và tội ác của giặc đã được lột tả như thế nào? Theo anh/chị, tác giả tố cáo tội ác của giặc để làm gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định chi tiết miêu tả sự ngang ngược và tội ác của giặc

Lời giải chi tiết

- Chi tiết tả tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù:

+ Kẻ thù tham lam, tàn bạo: Ngang ngược đi lại nghênh ngang ngoài đường, đòi ngọc lụa, thu vàng bạc

+ Hành động xúc phạm danh dự đất nước: "Lưỡi cú diều", "thân dê chó" - sứ Nguyên để "xỉ mắng triều đình", "bắt nạt tể phụ".

- Đoạn văn tố cáo tội ác giặc để khơi gợi được lòng căm thù giặc, khích lệ tinh thần yêu nước bất khuất, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của tướng sĩ.

Giải thích:

Các từ ngữ như “nghênh ngang”, “xỉ mắng”, “bắt nạt” cho thấy thái độ hống hách, coi thường triều đình và chủ quyền dân tộc của quân giặc. Không chỉ xúc phạm danh dự quốc gia, chúng còn liên tục đòi hỏi ngọc lụa, bạc vàng để phục vụ lòng tham, gây tổn hại trực tiếp đến đất nước. Tác giả dùng những hình ảnh “lưỡi cú diều”, “thân dê chó” để thể hiện sự khinh bỉ, căm ghét đối với kẻ thù. Việc tái hiện những hành động ấy nhằm khơi sâu nỗi nhục mất nước và lòng căm thù giặc, từ đó thúc đẩy tướng sĩ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước vận mệnh quốc gia.

Câu 3

Trong câu: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù" có thể thay "quên" bằng "không"; "chưa" bằng "chẳng" được không? Vì sao?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Thử thay từ ngữ và nhận xét

Lời giải chi tiết

- "Quên": Có nghĩa là "không nghĩ đến, không để tâm đến". Dùng câu này để thể hiện lòng căm thù giặc và tìm cách trả thù đến mức không để tâm đến việc ăn uống, một hoạt động thiết yếu và diễn ra hằng ngày đối với tất cả mọi người. Còn "không": Chỉ mang ý nghĩa phủ định.

- "Chưa": Biểu thị ý phủ định đối với điều mà cho đến một thời điểm nào đó không có, nhưng thời điểm sau đó có thể có. Dùng câu này để thể hiện thái độ tìm cách trả thù giặc, bây giờ chưa làm được nhưng chắc chắn sẽ làm được sau đó. Còn từ "chẳng' chỉ biểu thị ý phủ định nhất định, nhưng không có hàm ý là về sau có thể có.

=> không thể thay" quên "bằng" không ";" chưa "bằng" chẳng "được. Nếu thay thế sẽ làm thay đổi hẳn ý nghĩa của câu.

Giải thích:

“Quên” không đơn thuần nói về việc không ăn mà nhấn mạnh mức độ say mê, đau đớn và căm tức đến quên cả nhu cầu thiết yếu của bản thân. Cách dùng “quên ăn” vì thế có sức biểu cảm mạnh hơn “không ăn”. Trong khi đó, “chưa” gắn với một hành động chưa xảy ra ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn hướng tới khả năng xảy ra trong tương lai. Câu “chưa xả thịt, lột da…” thể hiện rằng Trần Quốc Tuấn đang nung nấu ý chí trả thù quân giặc. Nếu đổi thành “chẳng”, ý nghĩa sẽ nghiêng sang phủ định hoàn toàn, không còn thể hiện được sắc thái quyết tâm hành động. 

Mở rộng

- Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị.

- Có thể hiểu nghĩa của từ chính là nội dung mà từ biểu thị để giúp chúng ta có thể hiểu và nhận diện được nội dung từ đó.

Link tham khảo: Nghĩa của từ

Câu 4

Chỉ ra, phân tích hiệu quả hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về biện pháp liệt kê, ẩn dụ, so sánh

Lời giải chi tiết

- So sánh: Ruột đau như cắt

- Phóng đại, khoa trương: Trăm thân, nghìn xác

- Liệt kê: Quên ăn, vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

- Ẩn dụ: Xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù ý chỉ hành động không dung tha cho quân giặc; trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa chỉ sự hi sinh

- Tác dụng:

Nhấn mạnh, làm nổi bật hình ảnh chủ tướng với nỗi đau đớn, đắng cay, tủi nhục trước hành động tham tàn của sứ giặc cùng thái độ căm thù giặc sôi sục; qua đó thể hiện khí phách anh hùng, hiên ngang, lẫm liệt, tinh thần quyết chiến dù có hi sinh.

Giải thích:

Phép liệt kê liên tiếp các trạng thái “quên ăn”, “vỗ gối”, “ruột đau như cắt”, “nước mắt đầm đìa” khiến cảm xúc đau đớn, uất hận được đẩy lên từng mức độ, cho thấy nỗi lo lắng và căm tức giặc đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực của vị chủ tướng. Những hình ảnh “xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu” mang tính phóng đại, diễn tả một cách dữ dội khát vọng tiêu diệt quân thù Nhờ đó, hình tượng Trần Quốc Tuấn hiện lên là một vị chủ tướng có lòng yêu nước mãnh liệt, có nỗi đau trước vận nước lâm nguy và có ý chí chiến đấu quyết liệt.

Mở rộng

- Liệt kê là biện pháp tu từ mà người nói, người viết kể ra nhiều sự vật, sự việc, hoạt động, tính chất, trạng thái,... trong cùng một câu, một đoạn để tạo nên ấn tượng mạnh, hiệu quả cao trong miêu tả, kể chuyện hoặc biểu lộ tình cảm, cảm xúc.

Link tham khảo: Biện pháp tu từ Liệt kê

- Ẩn dụ là một biện pháp tu từ mà ở đó có các sự vật và hiện tượng được nhắc đến qua việc gọi tên sự vật hiện tượng khác mà ở đó có những nét tương đối giống nhau.

- Ẩn dụ được phân thành 4 loại, hay còn gọi là 4 hình thức:

+ Ẩn dụ hình thức: nhằm mục đích là “dấu” đi một phần ý nghĩa mà không phải ai cũng biết.

+ Ẩn dụ phẩm chất: thay thế phẩm chất của sự vật, hiện tượng này có nét tương đồng với phẩm chất của sự vật, hiện tượng khác.

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là cách thức nhận biết sự vật, hiện tượng bằng giác quan này nhưng khi miêu tả lại mang tính chất, đặc điểm của sự vật lại bằng cách sử dụng từ ngữ cho giác quan khác.

+ Ẩn dụ cách thức: là loại ẩn dụ có nhiều cách để thể hiện một vấn đề. Vì thế, người diễn đạt sẽ đưa hàm ý vào câu nói.

Link tham khảo: Ẩn dụ là gì? Đặc điểm của ẩn dụ

- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.

- Cấu trúc hoàn chỉnh phép so sánh: SV1 + PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH + TỪ NGỮ SO SÁNH + SV2

- Dấu hiệu nhận biết các kiểu so sánh:

+ So sánh ngang bằng: như, là, bằng, tựa,...

+ So sánh không ngang bằng: chưa bằng, chẳng bằng, hơn, kém,..

Khi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong một ngữ liệu đã cho, ta cần chỉ ra ít nhất 2 tác dụng dựa vào gợi ý sau:

+ Tác dụng nghệ thuật: giúp cho câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm,...

+ Tác dụng nội dung: Nhấn mạnh/ Làm nổi bật đối tượng hoặc đặc điểm nào của đối tượng?

+ Tác dụng biểu cảm: Tác giả bày tỏ thái độ, tình cảm, cảm xúc gì về đối tượng? Tác giả khơi gợi cho người đọc cảm xúc gì?

Một số link tham khảo: 

Biện pháp So sánh

Bài tập trắc nghiệm Tìm hiểu biện pháp So sánh

- Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại tính chất, quy mô của đối tượng để nhấn mạnh, tăng sức biểu cảm hoặc gây cười.

- Tác dụng của nói quá: nhấn mạnh ý, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm; đồng thời nói quá không phải là nói sai sự thật hay nói dối.

- Cách nhận diện biện pháp nói quá: đối chiếu nội dung lời nói với thực tế, nắm được ý nghĩa hàm ẩn của lời nói.

Link tham khảo: Nói quá là gì? Tác dụng của nói quá

Câu 5

Qua đoạn trích, anh/chị hiểu gì về vai trò của chủ tướng Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh dân tộc?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào ngữ cảnh, nêu suy nghĩ của bản thân

Lời giải chi tiết

Vai trò của chủ tướng Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh dân tộc:

- Là người chỉ huy anh minh, tài bà.

- Sáng suốt, nhìn nhận thấu đáo nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm lược.

- Có tài lãnh đạo, chỉ huy, cảm hóa lòng người, thống nhất toàn quân đồng lòng đánh giặc.

Giải thích:

Trước hết, Trần Quốc Tuấn là người nhạy bén và sáng suốt trước tình thế đất nước. Ông nhận ra sự ngang ngược, tham lam của quân giặc là dấu hiệu của nguy cơ xâm phạm chủ quyền dân tộc. Bản thân ông “tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối”, cho thấy vận mệnh đất nước luôn là mối bận tâm lớn. Lời khẳng định sẵn sàng hi sinh cho thấy ông đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên sự an nguy của bản thân. Với tư cách chủ tướng, ông còn có khả năng dùng lời lẽ giàu sức thuyết phục để đánh thức nhận thức, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của tướng sĩ. 

  • Đọc hiểu Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

    Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo; Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

  • Đọc hiểu Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

    Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: CHIẾU DỜI ĐÔ (Thiên đô chiếu) Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi.

  • Đọc hiểu Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

    Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi: (1) Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close