Đọc hiểu Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: VỊNH KHOA THI HƯƠNG (Trần Tế Xương) Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

VỊNH KHOA THI HƯƠNG

(Trần Tế Xương)

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra.

Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Câu 1

Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đếm số chữ trong mỗi dòng thơ (7 chữ).

- Đếm số dòng của bài thơ (8 dòng).

- Đối chiếu với đặc trưng các thể thơ trung đại.

Lời giải chi tiết

Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật

Giải thích:

Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, niêm luật chặt chẽ, đúng đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Mở rộng

- Thơ thất ngôn bát cú là một thể thơ Đường luật, gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Đây là một thể thơ phổ biến trong văn học Việt Nam thời trung đại, có nguồn gốc từ Trung Quốc.

- Luật thơ là cách sắp đặt tiếng bằng, tiếng trắc trong các câu của một bài thơ.

- Thường được tóm tắt bằng câu: “nhất – tam – ngũ bất luận, nhị – tứ – lục phân minh”, tức là:

+ Các tiếng (âm tiết) thứ nhất, thứ ba, thứ năm trong câu không cần sắp xếp theo đúng luật bằng trắc

+ Các tiếng thứ hai, thứ tư, thứ sáu trong câu cần tuân theo luật bằng/ trắc rõ ràng.

- Nếu tiếng thứ hai của câu một là tiếng thanh bằng (thanh ngang hoặc thanh huyền) thì bài thơ làm theo luật bằng.

- Bố cục thường được chia theo các cặp câu:

+ Đề (câu 1,2: mở đầu và bắt đầu phát triển ý của bài thơ)

+ Thực (câu 3,4: triển khai ý cuẩ đề tài, miêu tả cụ thể về tình cảm, sự việc)

+ Luận (câu 7,8: thâu tóm ý nghĩa cả bài và kết ý).

- Tuy vậy, bố cục cũng có thể chia theo những cách khác như:

+ Bốn câu đầu – bốn câu cuối

+ Sáu câu đầu – hai câu cuối…

Link tham khảo:

Thể thơ Thất ngôn bát cú

Luật, niêm, đối trong thơ thất ngôn bát cú

Câu 2

Cách thức tổ chức kì thi Hương được nhắc đến trong hai câu thơ đầu có gì thay đổi?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ hai câu thơ đầu

Xác định các chi tiết nói về thời gian và địa điểm tổ chức kì thi.

Lời giải chi tiết

Cách thức tổ chức kì thi Hương được nhắc đến trong hai câu thơ đầu về thời gian tổ chức: 3 năm nhà nước tổ chức một kì Hương - không thay đổi. Nhưng địa điểm tổ chức: Tại trường thi Nam Định và trường Nam thi lẫn với trường Hà => gợi sự nhốn nháo, lẫn lộn, ô hợp.

Giải thích:

Việc thi cử không còn nghiêm trang mà trở nên ô hợp, phản ánh sự xuống cấp của nền khoa cử.

Câu 3

Qua 4 câu thơ đầu, anh/ chị có cảm nhận gì về cảnh thi cử lúc bấy giờ?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Chú ý các từ ngữ miêu tả cảnh trường thi

Phân tích sắc thái biểu cảm của các từ ngữ đó.

Lời giải chi tiết

Hình ảnh sĩ tử và quan trường trong hai câu thơ 3 và 4:

- Sĩ tử "vai đeo lọ" => lôi thôi, luộm thuộm, nhếch nhác.

- Quan trường "ậm ọe" => âm thanh ú ớ, nói không rõ tiếng, la lối hách dịch, vênh váo mà không có uy gì cả.

=> Từ quan trường đến sĩ tử đều mất đi sự tôn nghiêm, trở nên thảm hại, nực cười.

Giải thích:

Cả sĩ tử lẫn quan trường đều mất đi vẻ trang nghiêm vốn có của khoa cử. Cảnh thi cử trở nên thảm hại, nực cười, đáng chê trách.

Câu 4

Chỉ ra và nêu tác dụng của phép đối trong hai câu thơ dưới đây:

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về phép đối

Xác định các cặp hình ảnh, từ ngữ đối xứng trong hai câu thơ.

Phân tích ý nghĩa biểu đạt và thái độ của tác giả.

Lời giải chi tiết

- Phép đối: Lọng cắm rợp trời - váy lê quét đất; quan sứ đến - mụ đầm ra.

- Tác dụng:

+ Tác giả châm biếm mạnh mẽ hình ảnh quan sứ được đón tiếp trọng thể, mụ đầm ăn mặc diêm dúa, điệu đáng. Tất cả đều phô trương hình, hình thức.

+ Đồng thời, gián tiếp bộc lộ nỗi niềm tủi nhục, chua xót của nhà thơ trước cảnh chướng tai gai mắt của những "ông Tây mụ đầm" trong hoàn cảnh mất nước.

+ Làm cho cách diễn đạt thêm sinh động, gây ấn tượng, cân xứng, hài hòa.

Giải thích:

Phép đối làm nổi bật cảnh đón tiếp phô trương, hình thức, châm biếm sâu sắc sự lố lăng của “ông Tây mụ đầm”, đồng thời bộc lộ nỗi tủi nhục, chua xót của tác giả trước cảnh nước mất, văn hóa bị xâm lấn.

Mở rộng

- Đối: là biện pháp tu từ, theo đó người viết (người nói) xếp đặt những từ ngữ hoặc câu có đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp tương tự hoặc tương phản nhau ở những vị trí đối xứng trong câu hoặc trong văn bản để gợi ra một nội dung hoàn chỉnh, làm nổi bật một ý nghĩa nhất định

- Tác dụng: tạo nên vẻ đẹp cân xứng, hài hoà cho lời thơ, câu văn

Link tham khảo: Khái niệm biện pháp tu từ đối và tác dụng

Câu 5

Nêu suy nghĩ của bản thân về lời nhắn gửi của Tế Xương trong 2 câu thơ cuối.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ 2 câu thơ cuối, xác định cảm xúc, thái độ của tác giả và nêu suy nghĩ của bản thân

Lời giải chi tiết

Trước thực tại đất nước oái oăm nhục nhã, Tế Xương đã bật ra tiếng kêu than. Đất Bắc ở đây là chỉ Hà Nội – mảnh đất hội tụ nhân tài nước nhà. Câu thơ là tiếng kêu đầy đau đớn của Tế Xương với chính bản thân mình hay là một lời kêu gọi đến những ai còn nghĩ tới sự vinh nhục của đất nước. Âm điệu câu thơ thể hiện sự xót xa, xốn xang của nhà thơ. Nhân tài ở đây không ai khác chính là những người trí thức của thời đại.

Giải thích:

Bài thơ mang giá trị hiện thực sâu sắc và tinh thần trách nhiệm của người trí thức trước thời cuộc.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close