Đọc hiểu Tâm hồn mẹ (Nguyễn Huy Thiệp) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12

Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó. Nó luôn cảm thấy tủi thân. Tóm lại là không thể bằng mẹ. Mẹ thì khác, dĩ nhiên rồi.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

TÂM HỒN MẸ

(Lược đoạn mở đầu: Mẹ mất khi Đăng mới hai tuổi, bố đi lấy vợ khác. Đăng ở với ông bà ngoại.)

Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó. Nó luôn cảm thấy tủi thân. Tóm lại là không thể bằng mẹ. Mẹ thì khác, dĩ nhiên rồi. Mẹ là hình ảnh tuyệt diệu, nó không hình dung là sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nó cảm nhận được. Trong số bạn bè ít ỏi của Đăng có Thu. Thu bảy tuổi, có bố mẹ, có cả em nữa. Ở trong hoàn cảnh như thế nên ý nghĩ và tình cảm của Thu khác nó.

Thu hồn nhiên và khá tự do. Nó có thể đi chơi mà chẳng cần phải định giờ về. Nó khác Đăng. Đăng bị một loạt quy định kìm giữ. Ông bà ngoại Đăng luôn luôn căng thẳng trong trách nhiệm với đứa cháu mình. Từ việc chơi với Thu, điều này thật vô hại mà ông bà cũng đe nẹt, cấm đoán nó.

Thu có đôi tai hồng và đôi mắt đen nháy. Không hiểu sao Đăng rất thích được ve vuất đôi tai hồng ấy và nhìn sâu vào đôi mắt đen nháy ấy:

- Mày nhìn như nuốt tao ấy. Mày tìm cái gì ở đấy?

Đăng bối rối. ừ, nếu là mẹ thì chắc cũng có đôi mắt như vậy. Không thể khác được.

(…)

Vào lớp một, Đăng và Thu ngồi cùng một bàn. Với sự tiếp nhận thế giới xung quanh, Đăng luôn luôn cảm thấy thua kém Thu nhiều mặt. Thu dễ hòa hợp với bè bạn hơn. Nhận thức bài học cũng vậy Thu nhận thức nhanh hơn. Vô hình trung, Đăng cảm thấy có sự lệ thuộc nào đấy vào bạn. Một cách không tự giác, Thu như chỗ dựa cho Đăng về mặt tinh thần. Thu đứng ra bảo vệ cho Đăng trước các địch thủ trong lớp, nó nhắc nhở Đăng trong việc chuẩn bị bài vở. Cho đến lúc nào đó, Thu còn như lạm dụng vai trò của nó với Đăng. Bạn bè trong lớp đã chế giễu chúng:

- Cái Thu là mẹ, Thằng Đăng là con! Cái gì thằng Đăng cũng đều hỏi mẹ!

Những lời như thế đầu tiên làm Đăng phẫn nộ. Sau đó quen đi, một phần cũng do bản tính thụ động. Dần dà trong ý thức, Đăng có sự nể vì đặc biệt đối với Thu, sự nể vì đáng lẽ dùng cho người lớn. Thu rất tự hào về vai trò của nó đối với bạn. Nó nói với Đăng:

- Tao là mẹ mày! Thật đấy! Chúng nó nói không sai đâu!

Đăng cười bối rối, nó không tin Thu có thể trở thành mẹ. – Tuy thế, nó không bác lại. Thật ra, nó cần có mẹ. (…)

Ông bà ngoại Đăng thương chiều nó. Nó là của quý. Những thói hư tật xấu của nó thường bị ông bà nó đổ lỗi cho Thu. Tính lông bông ương bướng, thói giễu cợt, sự lười nhác, thậm chí cả việc chậm hiểu của đầu óc nó cũng do bạn nó. Đăng biết ông bà ngoại nó nhầm. Càng lớn lên nó càng bướng bỉnh, càng cô đơn và càng nhạy cảm hơn về thân phận côi cút của mình.

Một bữa, Đăng đánh vỡ tan ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ. Bà ngoại tiếc của mắng nó:

- Đồ hậu đậu. Tất cả là từ cái con mẹ Thu nhãi ranh của mày.

Đăng trào nước mắt, nó uất ức, tủi cực. Nó trốn xuống bếp ngồi trong bóng tối và tức tưởi khóc. Trên nhà bà ngoại của Đăng vẫn đang điên cuồng gào thét. Có tiếng tầu điện sầm sập chạy nhanh ngoài phố. Bỗng ý nghĩ về cái chết bật ra rất nhanh trong Đăng. Đúng rồi! Ngã xuống dưới đường ray! Cái khối sắt đồ sộ lướt qua và thế là hết. Chẳng phải làm gì, chẳng phải nghĩ ngợi. Mười phút nữa sẽ có chuyến tầu đi qua. Điều cần nhất là báo cho Thu. Nó là bạn tốt. Nó cắt nghĩa được cái chết. Ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ có nghĩa lý gì? Phúc-Lộc -Thọ có nghĩa lý gì? Đăng len lén mở cửa rồi chạy ra đường. Cái tầu điện cách ba trăm mét. Thu đứng ở vệ đường.

- Mày sao thế? - Thu ngơ ngác.

Đăng chấp chói. Mặt nó tái đi không còn thần sắc. Cái tầu điện lướt qua. – Trời ơi – Thu đẩy Đăng ra rồi ngã vật xuống. Nó ngất đi.

Đăng không chết, vì do Thu đẩy ngã. Còn Thu lại bị tàu điện cán gẫy nát chân. Người ta đưa cả hai đứa đi viện. Đăng sốt cao, suốt đêm cứ vật vã nói mê liên hồi:

- Mẹ… mẹ… mẹ… mẹ…

Tiếng “mẹ” của nó như tiếng gió thổi ở ngoài đầu hồi. (…)

(Nguyễn Huy Thiệp, Tuyển tập truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 2005, tr. 224 -230)

Câu 1

Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ văn bản.

- Vận dụng kiến thức đã học về các ngôi kể.

Lời giải chi tiết

Văn bản được kể theo ngôi thứ 3.

Giải thích:

Người kể không xưng “tôi” mà gọi nhân vật bằng tên “Đăng”, “Thu”, “ông bà ngoại”. Người kể giấu mình và thuật lại câu chuyện từ bên ngoài.

Mở rộng

Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.

Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Câu 2

Tìm hai chi tiết trong truyện cho thấy sự “lệ thuộc” của Đăng vào Thu.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Tìm những hành động, suy nghĩ và cách ứng xử của Đăng cho thấy em coi Thu như một chỗ dựa trong cuộc sống.

Lời giải chi tiết

Các chi tiết cho thấy sự “lệ thuộc” của Đăng vào Thu:

- Một cách không tự giác, Thu như chỗ dựa cho Đăng về mặt tinh thần.

- Thu đứng ra bảo vệ cho Đăng trước các địch thủ trong lớp, nó nhắc nhở Đăng trong việc chuẩn bị bài vở.

- Dần dà trong ý thức, Đăng có sự nể vì đặc biệt đối với Thu, sự nể vì đáng lẽ dùng cho người lớn.

- Khi Thu nhận là mẹ Đăng: Đăng cười bối rối, nó không tin Thu có thể trở thành mẹ. - Tuy thế, nó không bác lại. Thật ra, nó cần có mẹ. (…) ;

- Khi nghĩ đến cái chết, người Đăng nghĩ đến đầu tiên là Thu: Điều cần nhất là báo cho Thu. Nó là bạn tốt. Nó cắt nghĩa được cái chết …

Giải thích:

Những chi tiết trên cho thấy Đăng không chỉ quý Thu mà còn phụ thuộc vào Thu về tinh thần, xem Thu như người bảo vệ, người chăm sóc và phần nào thay thế hình ảnh người mẹ mà em luôn thiếu vắng.

Mở rộng

Chi tiết là phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng.

Link tham khảo: Định nghĩa chi tiết

Câu 3

Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Tiếng ‘mẹ’ của nó như tiếng gió thổi ở ngoài đầu hồi”.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định hình ảnh được so sánh, sau đó làm rõ đặc điểm của đối tượng được gợi ra qua hình ảnh so sánh. 

Lời giải chi tiết

- Biện pháp tu từ so sánh: Tiếng gọi mẹ của Đăng được so sánh với tiếng gió thổi ở ngoài đầu hồi

- Phân tích tác dụng:

+ Thể hiện nỗi khát khao tuyệt vọng được gọi, được nghe, được có mẹ - tiếng gọi “mẹ” như vang ra trong khoảng không, không có hồi đáp.

+ Diễn tả nỗi cô đơn tột cùng, sự trống trải vô hạn trong tâm hồn côi cút của Đăng.

+ Giúp cho việc diễn đạt trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm

Giải thích:

Tiếng gió ngoài đầu hồi gợi cảm giác vắng vẻ, buồn và không có người đáp lại. Vì thế, hình ảnh so sánh làm tiếng gọi “mẹ” của Đăng trở nên ám ảnh, qua đó nhấn mạnh nỗi cô độc và khát khao tình mẹ của em.

Mở rộng

- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.

- Cấu trúc hoàn chỉnh phép so sánh: SV1 + PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH + TỪ NGỮ SO SÁNH + SV2

- Dấu hiệu nhận biết các kiểu so sánh:

+ So sánh ngang bằng: như, là, bằng, tựa,...

+ So sánh không ngang bằng: chưa bằng, chẳng bằng, hơn, kém,..

Khi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong một ngữ liệu đã cho, ta cần chỉ ra ít nhất 2 tác dụng dựa vào gợi ý sau:

+ Tác dụng nghệ thuật: giúp cho câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm,...

+ Tác dụng nội dung: Nhấn mạnh/ Làm nổi bật đối tượng hoặc đặc điểm nào của đối tượng?

+ Tác dụng biểu cảm: Tác giả bày tỏ thái độ, tình cảm, cảm xúc gì về đối tượng? Tác giả khơi gợi cho người đọc cảm xúc gì?

Một số link tham khảo: 

Biện pháp So sánh

Bài tập trắc nghiệm Tìm hiểu biện pháp So sánh

Câu 4

Qua cách nuôi dạy của ông bà ngoại với Đăng, hãy lí giải, tại sao dù được ông bà ngoại yêu thương, chăm sóc, nhân vật Đăng càng lớn lên “càng bướng bỉnh, càng cô đơn và càng nhạy cảm hơn về thân phận côi cút của mình.”

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào cách ông bà chăm sóc, quản lí và ứng xử với Đăng để tìm ra nguyên nhân khiến tâm lí, tính cách của em ngày càng thay đổi. 

Lời giải chi tiết

- Cách nuôi dạy của ông bà ngoại với Đăng: yêu thương nhưng cứng nhắc, thiếu sự thấu hiểu tâm lí trẻ thơ.

- Lí giải:

+ Sự cấm đoán, giám sát quá mức khiến Đăng thiếu tự do, thiếu sẻ chia, cảm thấy bị cô lập trong chính gia đình mình.

+ Vì thiếu tình yêu dịu dàng, Đăng mất kết nối cảm xúc với người lớn, càng khao khát tình mẹ, nên trở nên bướng bỉnh, nhạy cảm, dễ tổn thương.

⟹ Qua đó, tác giả phê phán lối giáo dục áp đặt, thiếu đồng cảm, đồng thời gửi gắm thông điệp nhân văn về nhu cầu được yêu thương, thấu hiểu ở trẻ em.

Giải thích:

Ông bà coi Đăng là “của quý”, thương chiều nhưng lại luôn “căng thẳng trong trách nhiệm”, thường cấm đoán cả những việc vô hại như chơi với Thu. Sự chăm sóc thiên về quản lí mà thiếu thấu hiểu khiến Đăng không tìm được sự đồng cảm ở người lớn, từ đó càng cảm nhận rõ sự thiếu vắng của mẹ và trở nên cô đơn, nhạy cảm hơn.

Câu 5

Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?

“Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó. Nó luôn cảm thấy tủi thân. Tóm lại là không thể bằng mẹ. Mẹ thì khác, dĩ nhiên rồi. Mẹ là hình ảnh tuyệt diệu, nó không hình dung là sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nó cảm nhận được. Trong số bạn bè ít ỏi của Đăng có Thu.

Thu bảy tuổi, có bố mẹ, có cả em nữa. Ở trong hoàn cảnh như thế nên ý nghĩ và tình cảm của Thu khác nó.”

(Tâm hồn mẹ, Nguyễn Huy Thiệp)

“Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người miệng, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng.”

(Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng)

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đối chiếu hai ngữ liệu về hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật để tìm điểm gặp gỡ về tình cảm, sau đó khái quát thành ý nghĩa chung.

Lời giải chi tiết

- Cả hai đoạn trích đều thể hiện khát khao mãnh liệt về tình mẹ và hơi ấm gia đình trong tâm hồn những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm. Nếu Tâm hồn mẹ khắc họa nỗi trống vắng, tưởng tượng và mơ ước về hình ảnh người mẹ, thì Những ngày thơ ấu diễn tả niềm hạnh phúc tràn ngập khi được sống trong vòng tay mẹ.

- Cả hai đều khẳng định tình mẫu tử là nguồn sống thiêng liêng, là nơi nương tựa tinh thần sâu xa nhất của con người.

Đoạn văn tham khảo:

Cả hai đoạn trích từ Tâm hồn mẹ và Những ngày thơ ấu đều có sự tương đồng sâu sắc khi cùng khắc họa khát khao mãnh liệt về tình mẫu tử và hơi ấm gia đình của những đứa trẻ. Qua dòng tâm trạng của các nhân vật, người đọc cảm nhận được nỗi trống vắng, sự trông ngóng hình bóng mẹ ở nhân vật Đăng, cũng như niềm hạnh phúc vỡ òa khi được sà vào lòng mẹ của nhân vật "tôi". Dù được thể hiện dưới hai hoàn cảnh và góc nhìn khác nhau, cả hai ngữ liệu đều gặp nhau ở một điểm chung: khẳng định tình mẫu tử là nguồn sống thiêng liêng và là điểm tựa tinh thần vững chãi nhất trong cuộc đời mỗi con người.

Giải thích:

Đăng luôn thiếu mẹ và tìm thấy hình bóng mẹ ở Thu, trong khi nhân vật “tôi” trực tiếp cảm nhận sự ấm áp khi được mẹ yêu thương. Hai cách thể hiện khác nhau nhưng đều cho thấy trẻ em luôn có nhu cầu về tình mẹ và sự chở che của gia đình.

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close