Đọc hiểu Trò chuyện với nàng Vọng Phu (Vương Trọng) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12

– Về thôi nàng ơi Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa Sao nàng còn đứng trong mưa gió

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

TRÒ CHUYỆN VỚI NÀNG VỌNG PHU

– Về thôi nàng ơi

Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa

Sao nàng còn đứng trong mưa gió

Cô đơn giữa mây trời? 

– Thế để đâu những lời

Ta đã hẹn với người ta thương nhớ?

– Người ấy chẳng bao giờ về nữa

Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao

Đất nước qua trăm trận binh đao

Lở bồi, dâu bể…

– Người đời biết thân ta hóa đá

Nhưng không hay ta hoá đá niềm tin

Hoá đá nỗi cô đơn

Và thời gian chờ đợi!

– Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi

Ngày người ấy trở về

Thân thể đã thành tro bụi

Còn nhớ sao được câu hẹn lời thề?

– Người ta thương không thể trở về

Chẳng ai hiểu bằng ta điều đó

Chẳng ai hiểu bằng ta nỗi khổ

Của người vợ chờ chồng…

Ta hóa đá đợi triệu lần nỗi đợi

Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong!

1990

(Vương Trọng, Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1995, tr. 257-258)

Câu 1

Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Vận dụng kiến thức về các thể thơ

- Quan sát số chữ mỗi dòng, cách ngắt nhịp, gieo vần

Lời giải chi tiết

- Bài thơ thuộc thể thơ tự do

Giải thích:

Bài thơ có số chữ mỗi dòng không cố định, cách ngắt nhịp linh hoạt, không tuân theo quy luật gieo vần chặt chẽ của các thể thơ truyền thống.

Mở rộng

- Thơ tự do không có thể thức nhất định, không bị ràng buộc về số dòng, số chữ, vần,…

- Đặc điểm thơ tự do: 

+ Khác với thơ văn xuôi, thơ tự do có phân dòng

+ Có thể là sự kết hợp của các đoạn làm theo nhiều thể khác nhau hoặc tự do hoàn toàn. 

+ Gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt

Link tham khảo: Thơ tự do 

Câu 2

Trong đối thoại với nhà thơ, nàng Vọng Phu đã bộc bạch những tâm sự gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc các lời thoại của nhân vật nàng Vọng Phu.

- Xác định những tâm trạng, suy nghĩ và lí do chờ đợi được bộc lộ.

Lời giải chi tiết

Trong cuộc đối thoại với nhà thơ, nàng Vọng Phu đã bộc bạch những tâm sự:

- Giữ trọn lời hẹn với người chồng mà mình thương nhớ.

- Hiểu rằng người chồng có thể không bao giờ trở về, nhưng vẫn chấp nhận chờ đợi.

- Sự hóa đá không chỉ là thân xác mà còn là niềm tin, nỗi cô đơn và thời gian chờ đợi.

- Nàng chấp nhận hóa đá để gánh lấy nỗi chờ đợi thay cho những người vợ khác, mong họ không phải chịu cảnh chờ mong đau khổ như mình.

=> Qua đó thể hiện nỗi cô đơn, lòng thủy chung và sự hi sinh cao cả của người vợ.

Giải thích:

Những câu “Ta đã hẹn với người ta thương nhớ”, “ta hóa đá niềm tin”, “hóa đá nỗi cô đơn” cho thấy nàng vẫn giữ lời hẹn và niềm tin dù phải chờ đợi rất lâu. 

Mở rộng

Tâm sự thường dùng khi chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ cá nhân với người thân, bạn bè.

Link tham khảo: Khái niệm tâm sự

Câu 3

Anh/chị hãy nêu hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ (phần in đậm) được tác giả sử dụng trong đoạn thơ sau:

"- Người đời biết thân ta hóa đá

Nhưng hay đâu ta hóa đá niềm tin

Hóa đá nỗi cô đơn

Và thời gian chờ đợi!"

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Phân tích: Ý nghĩa hình ảnh; tác dụng biểu đạt nội dung và nghệ thuật

Lời giải chi tiết

Biện pháp ẩn dụ “hóa đá niềm tin”, “hóa đá nỗi cô đơn”, “hóa đá thời gian chờ đợi” có tác dụng:

+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm và chiều sâu cảm xúc cho đoạn thơ.

+ Làm nổi bật nỗi chờ đợi kéo dài, bền bỉ và khắc nghiệt của người vợ. Gợi lên nỗi cô đơn, đau khổ và sự thủy chung son sắt của người phụ nữ.

+ Khẳng định sự hóa đá không chỉ là thân xác mà còn là tình cảm, niềm tin và cả thời gian.

Giải thích:

“Hóa đá” vốn chỉ sự biến đổi về thân thể nhưng ở đây được dùng cho “niềm tin”, “nỗi cô đơn”, “thời gian chờ đợi”, khiến những cảm xúc và thời gian vốn vô hình trở nên cụ thể, nặng nề. Vì thế, người đọc cảm nhận rõ hơn sức nặng của nỗi chờ đợi mà nàng phải mang theo suốt “mấy ngàn năm”.

Mở rộng

- Ẩn dụ là một biện pháp tu từ mà ở đó có các sự vật và hiện tượng được nhắc đến qua việc gọi tên sự vật hiện tượng khác mà ở đó có những nét tương đối giống nhau.

- Ẩn dụ được phân thành 4 loại, hay còn gọi là 4 hình thức:

+ Ẩn dụ hình thức: nhằm mục đích là “dấu” đi một phần ý nghĩa mà không phải ai cũng biết.

+ Ẩn dụ phẩm chất: thay thế phẩm chất của sự vật, hiện tượng này có nét tương đồng với phẩm chất của sự vật, hiện tượng khác.

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là cách thức nhận biết sự vật, hiện tượng bằng giác quan này nhưng khi miêu tả lại mang tính chất, đặc điểm của sự vật lại bằng cách sử dụng từ ngữ cho giác quan khác.

+ Ẩn dụ cách thức: là loại ẩn dụ có nhiều cách để thể hiện một vấn đề. Vì thế, người diễn đạt sẽ đưa hàm ý vào câu nói.

Link tham khảo: Ẩn dụ là gì? Đặc điểm của ẩn dụ

Câu 4

Nhận xét về tâm nguyện của nhà thơ trong hai câu thơ kết :

"Ta hóa đá đợi triệu lần nỗi đợi

Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong!"

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Xác định tâm nguyện và thông điệp của tác giả.

- Nhận xét về ý nghĩa nhân văn.

Lời giải chi tiết

Hai câu thơ thể hiện tâm nguyện giàu ý nghĩa nhân văn của nhà thơ: sẵn sàng hóa thân thành đá để gánh chịu mọi nỗi chờ đợi, mong cho những người vợ khác không còn phải sống trong cảnh mòn mỏi đợi chồng. Qua đó, tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ và gửi gắm khát vọng về một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc, không còn những cuộc chia ly khiến con người phải chờ đợi trong đau khổ.

Giải thích:

Cụm từ “triệu lần nỗi đợi” phóng đại độ dài và sức nặng của sự chờ đợi, còn “thoát khỏi cảnh chờ mong” cho thấy mong ước chấm dứt những cảnh đời phải sống trong đợi chờ. Vì vậy, tâm nguyện còn hướng đến nhiều người phụ nữ trong cuộc đời.

Mở rộng

Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.

Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Câu 5

Những tỉnh, thành phố nào ở Việt Nam có hòn Vọng Phu? Thực tế đó gợi lên trong anh / chị những suy nghĩ gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Vận dụng hiểu biết văn hóa – địa lí Việt Nam.

- Nêu một số địa danh có núi/hòn Vọng Phu.

Lời giải chi tiết

- Các tỉnh, thành phố ở Việt Nam có hòn Vọng Phu (hay những tảng đá có hình giống người phụ nữ chờ chồng): Lạng Sơn, Thanh Hoá, Bình Định, Đắk Lắk, Nghệ An, Quảng Nam, Tuy Hoà,…

- Thực tế đó cho thấy nỗi đau chờ đợi người chồng đi chinh chiến đã trở thành đặc điểm chung của nhiều người phụ nữ Việt Nam. Nó phản ánh số phận đau khổ, kém may mắn của người phụ nữ trong xã hội cũ nhưng cũng là một hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng về sự thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.

Đoạn văn tham khảo:

Ở Việt Nam có nhiều địa danh gắn với hình tượng hòn Vọng Phu như ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định, Đắk Lắk, Nghệ An, Quảng Nam hay Tuy Hòa. Những tảng đá mang hình dáng người phụ nữ bồng con chờ chồng ấy gợi nhắc câu chuyện quen thuộc về nỗi chờ đợi mòn mỏi của người vợ khi chồng đi chinh chiến. Thực tế này cho thấy nỗi đau chờ đợi đã trở thành một đặc điểm chung trong số phận của nhiều người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. Đồng thời, hình tượng hòn Vọng Phu cũng trở thành biểu tượng đẹp cho lòng thủy chung, son sắt và sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam.

Giải thích:

Việc hình tượng Vọng Phu xuất hiện ở nhiều vùng đất cho thấy câu chuyện về người vợ chờ chồng không chỉ thuộc về một địa phương mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa rộng rãi. Qua đó, người đời lưu giữ cả nỗi đau của những cuộc chia ly lẫn vẻ đẹp của lòng thủy chung.

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close