Đọc hiểu Cái chùa hoang ở Đông Triều (Nguyễn Dữ) | Luyện đề đọc hiểu Văn 9

CÁI CHÙA HOANG Ở ĐÔNG TRIỀU (Trích Truyền kì mạn lục) Nguyễn Dữ Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi phía dưới văn bản:

CHUYỆN CÁI CHÙA HOANG Ở HUYỆN ĐÔNG TRIỀU 

(Nguyên văn: Đông Triều phế tự lục)

Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có. Các chùa như chùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng làm ni, nhiều gần bằng nửa số dân thường. Nhất là vùng huyện Đông Triều (1) , sự sùng thượng lại càng quá lắm. Chùa chiền dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, làng nhỏ cũng chừng năm, sáu. Bao ngoài bằng rào lũy, tô trong bằng vàng son, phàm người đau ốm, chỉ tin theo ở sự hư vô; gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là rộn rịp. Thần, Phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường. 

Bởi vậy người dân càng kính tin, không dám ngạo mạn. Song đến đời vua Giản Định nhà Trần (2) , binh lửa liên miên, nhiều nơi bị đốt; số chùa chiền còn lại mười không được một mà cái số còn lại ấy, cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đứng rũ ở giữa áng cỏ hoang bụi rậm. Sau khi quân Ngô (3) lui, dân trở về phục nghiệp, có viên quan là Văn Tư Lập đến trị huyện ấy, thấy những cảnh hoang tàn đổ nát bèn róng rả dân đinh các xã, đánh tranh ken nứa mà sửa chữa lại ít nhiều. Ngồi ở huyện ấy được một năm, thấy dân quanh huyện khổ về cái nạn trộm cắp, từ gà, lợn, ngỗng, ngan đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gì có thể ăn được đều bị mất hết. Tư Lập than rằng: 

- Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi tự ta.

Song Tư Lập cho là những đám trộm cắp vặt ấy, cũng không đến nỗi đáng lo ngại lắm, nên chỉ sức các thôn dân, đêm đêm phải canh phòng cẩn mật. Trong khoảng một tuần, tuy canh phòng chẳng thấy gì cả, nhưng những việc trộm cắp vặt cũng vẫn như trước. Lâu dần càng không thấy chúng kiêng sợ gì, đến nỗi lại vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta, vào buồng ghẹo vợ con người ta, khi mọi người đổ đến vây bắt, thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất, chẳng thấy gì cả. Tư Lập cười mà nói: 

- Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kỳ thực đó là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả. 

Sau đấy đi mời khắp các thầy phù thủy cao tay, xin bùa yểm trấn, làm thuyền bè mã mà tống tiễn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng: 

- Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hỏa mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình. 

Mọi người bèn đi đốt hương lễ bái ở chùa chiền khấn rằng: 

"Lũ chúng sinh này kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, hết lòng trông cậy ở Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân chúng, họa hại cả đến loài lục súc, vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Cúi xin mở lượng thương xót, ra uy trừng phạt, khiến thần, người chẳng lẫn, dân vật đều yên, hết thảy chúng sinh, đều được đội ơn nhiều lắm. Song loạn lạc vừa yên, sinh kế chưa khôi phục được, tấc gỗ mảnh ngói khó lòng xoay xở vào đâu. Đợi khi làm ăn giàu có sẽ lại xin sửa lại chùa chiền đền công đức ấy". 

Đêm hôm ấy, trộm cắp hoành hành lại dữ hơn trước. Tư Lập chẳng biết làm sao được; nghe Vương tiên sinh ở huyện Kim Thành (4) là người giỏi bói dịch, bèn đến bói một quẻ xem sao. Vương tiên sinh bói rồi nói rằng:

“Cưỡi trên ngựa tốt, 

Mặc áo vải săn. 

Túi da tên thiếc, 

Đích thị người thần.” 

Lại dặn rằng:

- Ông muốn trừ được nạn ấy, sáng mai nên theo phía tả cửa huyện đi về phương Nam, hễ thấy người nào vận mặc như thế, mang xách như vậy, quyết là người ấy có thể trừ hại được, nên cố thỉnh mời, dù từ chối cũng đừng nghe. 

Hôm sau, Tư Lập cùng các phụ lão đúng theo lời của Vương tiên sinh để trông ngóng xem, những kẻ đi, người lại đầy đường, chẳng thấy ai giống như thế cả. Trời đã xế chiều ai nấy chán nản sắp muốn về, chợt có một người từ trong núi bước ra, mình mặc áo vải, đeo cung cưỡi ngựa. Mọi người cùng chạy ra phục lạy ở phía trước mặt. Người ấy ngạc nhiên hỏi, mọi người cũng kể rõ bản ý của mình. Người ấy cười mà nói rằng:

- Các ông mà quá tin bói toán thế. Tôi từ nhỏ làm nghề săn bắn, mình không rời yên ngựa, tay không rời cung tên. Hôm qua nghe nói ở núi An Phụ (5) có nhiều giống nai, báo, thỏ tốt nên nay định đến để săn, nào có biết lập đàn thầy pháp, bắt ma vô hình là công việc thế nào. 

Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa bèn, vì sợ mang lụy vào thân, nên mới nhởn nhơ trong chốn khe núi, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kỳ được. Người kia xem chừng không thể từ chối, phải gượng nghe lời. Tư Lập mời người ấy về huyện để ở trong nhà quán xá, giường chiếu màn đệm rất sang trọng, săn sóc kính cẩn như một vị thần minh. Người ấy nghĩ riêng rằng:

- Họ tiếp đãi kính cẩn với ta như thế này, chỉ vì cho ta là có tài trừ quỷ. Nhưng thực thì ta chẳng có tài gì về việc đó, thế mà đi hưởng sự cung cấp của người, sao cho đành tâm. Nếu không sớm liệu trốn đi thì có ngày xấu hổ. 

Hôm ấy ước chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say, người ấy bèn rón rén ra khỏi huyện lỵ. Khi đến phía Tây cái cầu ván bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có toán người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên, người ấy bèn lẻn vào chỗ khuất, ngồi rình để xem họ làm trò gì. Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói: 

- Những con cá con ăn ngon lắm nên ăn dè dặt mới thấy thú, há chẳng hơn những thức hương hoa nhạt nhẽo họ thường dâng cúng chúng mình ư? Đáng tiếc là đến bây giờ, chúng mình mới được biết những vị ngon ấy. 

Một người cười mà nói: 

- Chúng mình thật to đầu mà dại, bấy nay bị người đời chúng nó lừa dối; ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp cái bụng nặng nghìn cây mà đi giữ của cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những buổi như buổi hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng.

Một người nói: 

- Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân (6) ngày xưa. 

Đoạn rồi họ dắt nhau đi lên, vào vườn mía, nhổ trộm mà tước mà hít. Người kia đang ngồi núp một chỗ, liền giương cung lắp tên, thình lình bắn ra, trúng luôn ngay được hai người. Bọn gian kêu ấm ớ mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng độ mấy chục bước đều mờ khuất hết. Song lúc đó còn thấy có tiếng mắng nhau: 

- Đã bảo ngày giờ không tốt thì đừng nên đi, không nghe lời ta, bây giờ mới biết. 

Người kia kêu réo ầm ĩ lên, dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy, cùng đốt đèn thắp đuốc chia nhau mỗi người đi đuổi một ngả. Họ soi thấy dấu máu vấy trên mặt đất, bèn theo dấu máu ấy đi về phía Tây. Chừng hơn nửa dặm đến một cái chùa hoang, vào thấy hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên cắm vào sâu lắm (7) . Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. Họ liền hẩy đổ hai pho tượng. Trong lúc ấy còn nghe có tiếng nói rằng:

- Vẫn tưởng kiếm cho no bụng, ai ngờ phải đến nát thân. Nhưng bày ra mưu mẹo là tự lão Thủy thần kia. Hắn là chủ mưu mà được thoát nạn còn chúng ta theo hắn mà phải chịu vạ, thật cũng đáng phàn nàn lắm. 

Đó rồi họ sai người đến miếu Thủy thần, thấy pho tượng thần đắp bằng đất, bỗng biến sắc, mặt tái đi như chàm đổ, mấy cái vẩy cá còn dính lèm nhèm trên mép, lại phá hủy luôn cả pho tượng ấy. Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương để trả ơn, người kia chở nặng mà về. Từ đấy yêu tà tuyệt tịch không còn thấy bóng tăm đâu nữa. 

Lời bình: Than ôi! Cái thuyết nhà Phật thật vô ích mà có hại quá lắm. Nghe lời nói năng thì từ bi, quảng đại, tìm sự ứng báo thì bắt gió mơ hồ. Nhân dân kính tín đến nỗi có người phá sản để cúng cho nhà chùa. Nay xem cái dư nghiệt ở trong một ngôi chùa nát mà còn gớm ghê như thế, huống ngày thường cúng vái sầm uất phỏng còn tai hại đến đâu. Song những anh quân, hiền tướng, thường muốn trừ bỏ mà vẫn không thể được. Bởi các đấng quân tử cao minh, thường có nhiều người giúp rập, chẳng hạn như Tô Học sĩ (8) đời Tống, Lương Trạng nguyên (9) đời Lê, ước sao có hàng trăm ông Hàn Xương Lê (10) ra đời, xúm lại mà đánh, đốt hết sách và chiếm hết nhà mới có thể được. 

(Nguyễn Dữ, trích Truyền kì mạn lục, NXB Kim Đồng, TP Hà Nội, 2021, tr138-143)

Chú thích: 

(1) Đông Triều: nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. 

(2) Trần Giản Định: tên là Ngỗi, dấy quân chống quân xâm lược Minh từ 1407, niên hiệu Hưng Khánh. 

(3) Quân Ngô: chỉ quân xâm lược Minh. 

(4) Huyện Kim Thành: thời Trần thuộc châu Đông Triều, nay thuộc địa phận tỉnh Hải Dương. 

(5) Núi An Phụ: nguyên chú: "Núi ở huyện Giáp Sơn", có lẽ nay là vùng Kinh Môn thuộc tỉnh Hải Dương. 

(6) Hổ đầu tướng quân: đời vua Tấn An Đế, Cố Hải Chi làm chức Hổ đầu tướng quân, người đương thời gọi là Cố Hổ đầu. Mỗi lần ăn mía, Cố đều ăn từ ngọn xuống gốc, lại nói: "Ăn như thế thì mỗi lúc mới đi đến chỗ thú vị". 

(7) Nguyên văn: "... tên cắm ngập đến lông vũ", tức là sâu vào đến lông vũ đuôi mũi tên. 

(8) Tô Học sĩ: Tô Đông Pha, nhà thơ lớn đời Tống, thường đến chùa Kim Sơn, chơi thân với sư Phật ấn. 

(9) Lương Trạng nguyên: tức Lương Thế Vinh, người xã Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Trạng nguyên năm Quang Thuận thứ 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, rất sùng đạo Phật.

(10) Hàn Xương Lê: Hàn Dũ đời Đường. Ông có bài biểu can ngăn việc rước xương Phật, thể hiện tư tưởng Phật. Ông khuyên vua đốt sách kinh Phật, bắt sư phải hoàn tục.

Câu 1

Tóm tắt các sự kiện chính được kể trong văn bản và xác định bối cảnh lịch sử xã hội của câu chuyện.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản và xác định các sự kiện chính

Lời giải chi tiết

- Tình trạng ma, quỷ, hưng yêu tác quái, trộm cắp, nhũng nhiễu ở Đông Triều khiến viên quan Tư Lập phải tìm cách trừ khử.

- Theo lời của Vương Tiên Sinh, Tư Lập mời người thần về trừ khử yêu quái, hậu đãi người thần, nhưng anh ta vốn chỉ là một người thợ săn.

- Đêm đến, người thợ săn trốn đi, tình cờ phát hiện thủ phạm, bắn tên, hô hoán dân chúng vay bắt.

- Thủ phạm bị phác giác hóa ra là tượng thủy thần và mấy pho tượng trong ngôi chùa hoang ở Đông Triều. Dân chúng đập đổ các pho tượng và từ đó cuộc sống của dân trong vùng trở lại bình yên.

- Bối cảnh lịch sử xã hội của câu chuyện:

+ Bối cảnh của câu chuyện là vào cuối đời Trần, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, đạo Phật có những dấu hiệu suy thoái, niềm tin vào đạo Phật mai một; chùa chiền mất linh ứng.

Giải thích:

Câu chuyện diễn ra vào cuối đời Trần, sau chiến tranh chống quân Minh, đất nước còn nhiều khó khăn, chùa chiền hoang phế, đời sống nhân dân khốn khổ và tình trạng mê tín dị đoan còn phổ biến. 

Câu 2

Liệt kê các nhân vật xuất hiện trong truyện và cho biết (các) nhân vật nào là nhân vật được xây dựng bằng yếu tố kì ảo?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc văn bản để xác định các nhân vật xuất hiện; sau đó phân loại nhân vật thành nhân vật bình thường và nhân vật mang yếu tố kì ảo dựa vào đặc điểm, hành động hoặc năng lực siêu nhiên của họ. 

Lời giải chi tiết

Nhân vật

Nhóm nhân vật bình thường

Nhân vật kì ảo

 

Tư Lập (quan huyện mới nhận chức).

Người thợ săn.

Dân chúng (nạn nhân ở vùng Đông Triều).

-        Các pho tượng đất sét đã biến thành “ ma, quỷ” trong ngôi chùa hoang ở Đông Triều.

-        Vương Tiên Sinh với khả năng bói dịch.

Giải thích:

Nhân vật bình thường là những con người có thật trong đời sống; còn các pho tượng biết đi lại, nói năng, ăn uống và gây hại cho dân làng là những nhân vật mang yếu tố kì ảo. 

Câu 3

Những kẻ trộm cắp, quấy nhiễu cuộc sống của người dân ở Đông Triều thực chất là ai? Nhận xét về cách tác giả miêu tả các nhân vật này trong truyện.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc phần cuối truyện để xác định thân phận thật của thủ phạm; sau đó phân tích cách tác giả xây dựng nhân vật thông qua yếu tố kì ảo, lời nói và hành động. 

Lời giải chi tiết

- Thủ phạm của những vụ trộm cắp, quấy nhiễu thực sự đối với cuộc sống của người dân ở Đông Triều không ai khác là các pho tượng đã biến thành ma, quỷ trong ngôi chùa hoang này.

- Nhận xét:

+ Tác giả xây dựng nhân vật bằng yếu tố kì ảo khi để các pho tượng hóa thành ma quỷ có thể đi lại, nói chuyện và gây hại.

+ Nhân vật được khắc họa sinh động qua hành động (ăn cá, trộm mía, phá phách...) và lời đối thoại, bộc lộ bản chất tham lam, háu đói, xảo quyệt.

Giải thích:

Việc kết hợp giữa yếu tố kì ảo với lời nói, hành động khiến các nhân vật vừa huyền bí vừa gần gũi, qua đó thể hiện dụng ý phê phán của tác giả. 

Câu 4

Phân tích vai trò của nhân vật Tư Lập, Vương tiên sinh, người thợ săn có công trong việc phát giác, trừ khử thủ phạm trộm cắp, quấy nhiễu để mang lại cuộc sống yên bình cho người dân ở Đông Triều.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định những hành động, việc làm của từng nhân vật trong diễn biến câu chuyện, từ đó rút ra vai trò của mỗi người đối với việc giải quyết mâu thuẫn của truyện.

Lời giải chi tiết

Vai trò của Tư Lập

Vai trò của Vương Tiên Sinh

Vai trò của người thợ săn

- Phát hiện thủ phạm là ma, quỷ, hưng yêu, không phải là kẻ trộm thông thường.

- Tìm mọi cách và mời bằng được những người có tài diệt trừ yêu ma.

- Tập hợp dân chúng đập bỏ tượng thủy thần.

- Người tiên đoán sự xuất hiện của người thợ sặn bằng lời bói dịch:

Cưỡi trên ngựa tốt,

Mặc áo vải săn.

Túi da tên thiếc,

Đích thị người thần.

Tình cờ phát hiện thủ pham, hô hào dân chúng truy bắt thủ phạm.

Giải thích:

Ba nhân vật có vai trò bổ sung cho nhau: Văn Tư Lập tổ chức và lãnh đạo, Vương tiên sinh định hướng, người thợ săn trực tiếp hành động, góp phần đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. 

Câu 5

Nêu chủ đề và thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc. Theo em, yếu tố kỳ ảo có vai trò thế nào trong việc thể hiện chủ đề thông điệp đó?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Từ nội dung rút ra chủ đề, thông điệp phù hợp

Lời giải chi tiết

- Chủ đề: Tình trạng nhũng nhiễu của xã hội và suy thoái niềm tin tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng.

- Thông điệp: Con người cần có nhận thức đúng đắn, không mê tín mù quáng, biết phân biệt điều thiện với điều ác; đồng thời phải giữ gìn những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lợi dụng tôn giáo để trục lợi, làm hại cộng đồng. 

Yếu tố kỳ ảo: các pho tượng đất sét trong chùa hoang biến thành ma đói có tác dụng cảnh báo sâu sắc về tình trạng suy thoái của niềm tin tôn giáo, đồng thời làm cho câu chuyện sự việc trở nên bất ngờ, hấp dẫn.

Giải thích:

Yếu tố kì ảo không chỉ tạo màu sắc truyền kì mà còn là phương tiện nghệ thuật để Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực và gửi gắm tư tưởng phê phán xã hội.

Câu 6

Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định mục đích chính của đoạn văn: kể chuyện, miêu tả hay bày tỏ quan điểm, cung cấp thông tin.

Lời giải chi tiết

Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: Tự sự

Giải thích:

Văn bản kể lại một chuỗi sự việc từ khi nạn trộm cắp xảy ra ở Đông Triều, quá trình Văn Tư Lập tìm cách trừ yêu, đến việc người thợ săn phát hiện thủ phạm và cuộc sống của nhân dân trở lại bình yên. 

Câu 7

Trong văn bản, Văn Tư Lập đã có hành động gì đầu tiên khi trở thành một vị viên quan ấp tể? Em có nhận xét gì về nhân vật qua hành động đó.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc phần đầu văn bản, xác định những việc làm đầu tiên của Văn Tư Lập sau khi nhận chức, sau đó nhận xét phẩm chất của nhân vật thông qua những hành động ấy. 

Lời giải chi tiết

- Hành động đầu tiên của Văn Tư Lập là: than: “Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc chính là cái lỗi tự ta" và “chỉ sức các thôn dân, đêm đêm phải canh phòng cẩn mật.” 

- Hành động này đã góp phần thể hiện Văn Tư Lập là một viên quan biết lo lắng cho sự an nguy của nhân dân, có tinh thần trách nhiệm và luôn cẩn trọng trong công việc, là người có khả năng lãnh đạo nhân dân.

Giải thích:

Việc tự nhận lỗi và nhanh chóng tìm biện pháp khắc phục cho thấy Văn Tư Lập là người có trách nhiệm, không đùn đẩy lỗi lầm và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. 

Câu 8

Chỉ ra điển tích, điển cố trong đoạn sau và nêu tác dụng: “- Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân (6) ngày xưa.”

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc đoạn văn, chú ý những nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, văn hóa được nhắc đến. Xác định đó là điển tích, điển cố rồi nêu tác dụng đối với nội dung và nghệ thuật của đoạn văn. 

Lời giải chi tiết

- Điển tích, điển cố được sử dụng trong đoạn: Hổ đầu tướng quân 

- Tác dụng: làm cho ngôn ngữ truyện hàm súc, trang trọng, cổ điển; làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, sinh động hơn. 

Giải thích:

Việc sử dụng điển tích, điển cố giúp ngôn ngữ truyện mang đậm màu sắc văn học trung đại, đồng thời tạo nên sự đối lập giữa những hình ảnh văn hóa cao đẹp với bản chất xấu xa của yêu quái.

Câu 9

Tìm một chi tiết kì ảo trong truyện và nêu tác dụng.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc văn bản, tìm chi tiết mang tính hoang đường, siêu nhiên; sau đó phân tích vai trò của chi tiết đó trong việc xây dựng cốt truyện và thể hiện tư tưởng của tác giả. 

Lời giải chi tiết

- Gợi ý những chi tiết kì ảo xuất hiện trong truyện: 

+ Khi đến phía Tây cái cầu ván bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên.

+ Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói: 

+ Bọn gian kêu ấm ớ mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng độ mấy chục bước đều mờ khuất hết.

- Tác dụng của các chi tiết kì ảo:

+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, sinh động

+ Giải thích được lý do xuất hiện những chuyện mất trộm tài sản của nhân dân: cái nạn trộm cắp, từ gà, lợn, ngỗng, ngan đến cá trong ao, quả trong vườn. 

+ Góp phần thể hiện được tư tưởng nhân đạo của nhà văn trong việc khắc hoạ cuộc sống vất vả, khốn khó của nhân dân trong thời kỳ loạn lạc, chiến tranh liên miên xảy ra. 

+ Phê phán thói trộm cắp vặt, xâm phạm, gây ảnh hưởng xấu đến người khác.

Giải thích:

Các chi tiết kì ảo trong truyện vừa gây bất ngờ vừa giúp Nguyễn Dữ gửi gắm tư tưởng phê phán hiện thực xã hội. 

Câu 10

Phật giáo là một trong những tôn giáo của Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một số người lợi dụng tôn giáo để trục lợi cá nhân, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Phật giáo. Theo em, cần làm gì để gìn giữ được những nét đẹp truyền thống từ Phật giáo?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Liên hệ với nội dung văn bản và thực tiễn đời sống để nêu những việc làm cụ thể nhằm bảo vệ các giá trị tốt đẹp của Phật giáo.

Lời giải chi tiết

- Bảo tồn các di tích, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể của Phật giáo

- Khuyến khích việc giữ gìn và phát huy các tập tục tốt đẹp của người Việt với Phật giáo: đến chùa, phóng sinh, …

- Lên án, tố cáo những hành vi làm trái với quy định của Phật giáo.

Giải thích:

Câu hỏi hướng đến trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo tồn giá trị tích cực của Phật giáo và đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến niềm tin và đời sống xã hội.

Tham Gia Group Dành Cho Học Sinh Lớp 9 - Ôn Thi Vào Lớp 10

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close