Đọc hiểu Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) | Luyện đề đọc hiểu Văn 9Trêu ngươi chi bấy trăng già? Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành! Lòng ngán ngẩm buồn tênh mọi nỗi, Khúc sầu tràng bối rối dường tơ. Ngọn đèn phòng động đêm xưa, Đài hoa tịnh đế (1) trơ trơ chưa tàn. Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: CUNG OÁN NGÂM KHÚC (Trích) Trêu ngươi chi bấy trăng già? Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành!
Lòng ngán ngẩm buồn tênh mọi nỗi, Khúc sầu tràng bối rối dường tơ. Ngọn đèn phòng động đêm xưa, Đài hoa tịnh đế (1) trơ trơ chưa tàn.
Mà lượng thánh (2) đa đoan kíp bấy, Bỗng ra lòng ruồng rẫy vì đâu? Bõ già tỏ nỗi xưa sau, Chẳng đem nỗi ấy mà tâu ngự cùng?
Đêm phong vũ lạnh lùng có một, Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh. Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh, Vách sương nghi ngút, đèn xanh lờ mờ.
Mắt chưa nhắp, đồng hồ đã cạn, Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao. Buồn này mới gọi buồn sao? Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình.
Bóng câu (3) thoáng bên mành mấy nỗi, Những hương sầu phấn tủi bao xong! Phòng khi động đến cửu trùng (4), Giữ sao cho được má hồng như xưa.” (Nguyễn Gia Thiều, thivien.net) Chú thích: - Cung oán ngâm khúc là bài ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, lúc đầu được nhà vua yêu chuộng, ái ân hết sức nồng nàn thắm thiết “mây mưa mấy giọt chung tình/ đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn”, nhưng chẳng bao lâu đã bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc “chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi”. Cung nữ khát khao muốn “đạp tiêu phòng mà ra” để trở về với cảnh đời “cục mịch nhà quê” thuở trước, nhưng nàng vẫn tiếp tục bị giam cầm trong cung điện vàng son, trong nỗi buồn đau sầu thảm và oán hờn chất chứa.” (Trích Wikipedia) (1) đài hoa tịnh đế: Tịnh 並 là đôi, đế 蒂 là cái đế hoa, hai hoa cùng nở trên một đế, như sen một cọng nở hai hoa, hoa cúc, hoa lài một cọng nở hoa sinh đôi là điềm lành của sự vợ chồng đôi lứa. Hai ngọn đèn thắp cúng khi đầu lễ thành hôn, gọi là hoa chúc (đuốc hoa) ví như đôi hoa tịnh đế. (2) thánh: chỉ vua. (3) bóng câu: Là bóng con ngựa con, hoặc ngựa nhỏ mà mạnh, nghĩa bóng là bóng nắng. (4) cửu trùng: (九重) là chín tầng, là nơi vua ở, chỉ vua.
Câu 1
Xác định thể thơ của văn bản trên. Phương pháp giải
Đọc văn bản, xác định số tiếng trong từng dòng thơ và cách gieo vần. Lời giải chi tiết
Thể thơ song thất lục bát. Giải thích: Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát, gồm hai câu bảy tiếng nối tiếp một cặp lục bát (6 tiếng - 8 tiếng). Mở rộng
- Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm cặp song thất (bảy tiếng) và cặp lục bát (sáu – tám tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài. - Gieo vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc). Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng). Tiếng cuối của dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (vần bằng). Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng) và cứ thế tiếp tục. - Ngắt nhịp: Hai dòng thất được ngắt nhịp lẻ, thường là 3/4; dòng lục và dòng bát ngắt nhịp linh hoạt hơn (dòng lục thường ngắt nhịp 2/2/2, dòng bát thường ngắt nhịp 2/2/2/2). - Thanh điệu: Về thanh điệu, thanh bằng (B) - trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định Link tham khảo: Thể thơ Song thất lục bát
Câu 2
Em hãy cho biết yếu tố Hán Việt “thánh” được in đậm trong 2 câu thơ sau là từ đa nghĩa, đồng âm hay đồng nghĩa? “Mà lượng thánh đa đoan kíp bấy” “Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh.” Xem lời giải
Câu 3
Vì sao người cung nữ lại ngao ngán cảnh vật xung quanh? Xem lời giải
Câu 4
Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản trên. Xem lời giải
Câu 5
Qua văn bản trên, em có cảm nhận gì về cuộc sống của người cung nữ thời xưa nơi cung vàng điện ngọc? Xem lời giải
|

Xem lời giải





Danh sách bình luận