Đọc hiểu Chiêu hồn nước (Phạm Tất Đắc) | Luyện đề đọc hiểu Văn 9Cũng nhà cửa, cũng giang san(1) Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời! Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang Vạch trời thét một tiếng vang Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: CHIÊU HỒN NƯỚC(*) (Trích) Cũng nhà cửa, cũng giang san(1) Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời! Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang Vạch trời thét một tiếng vang Cho thân tan với giang san nước nhà!... ... Non sông vẫn non sông gấm vóc, Cỏ cây xem vẫn mọc tốt tươi. Người xem cũng dáng con người, Cũng tai cũng mắt như đời khác chi. Cảnh như thế, tình thì như thế, Sống mà chi, sống để mà chi? Đời người đến thế còn gì! Nước non đến thế còn gì nước non! Nghĩ thân thể héo hon tấc dạ, Trông non sông lã chã dòng châu(2). Một mình cảnh vắng đêm thâu Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san... (Phạm Tất Đắc, trong Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX, Sđd) Chú thích: (*) Chiêu hồn nước: gọi hồn đất nước, mà đất nước ở đây có nghĩa là chủ quyền độc lập đã mất. Bài thơ được viết năm 1926, là tâm sự yêu nước nung nấu của tác giả, nó đã được truyền tụng rộng rãi và có sức lay động mạnh mẽ, đặc biệt là giới thanh niên, học sinh khi đó. (1) Giang san (giang sơn): sông núi, ngụ ý nói non sông đất nước. (2) Dòng châu: dòng nước mắt
Câu 1
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? Phương pháp giải
Đếm số từ trong mỗi dòng thơ; Xác định mục đích chính của đoạn văn: kể chuyện, miêu tả hay bày tỏ quan điểm Lời giải chi tiết
- Thể thơ: Song thất lục bát. - Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm Giải thích: Đoạn thơ được viết theo thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp giữa hai câu bảy tiếng và một cặp lục bát. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm vì tác giả trực tiếp bộc lộ nỗi đau xót, căm phẫn và lòng yêu nước trước cảnh nước mất, nhà tan. Mở rộng
- Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm cặp song thất (bảy tiếng) và cặp lục bát (sáu – tám tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài. - Gieo vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc). Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng). Tiếng cuối của dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (vần bằng). Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng) và cứ thế tiếp tục. - Ngắt nhịp: Hai dòng thất được ngắt nhịp lẻ, thường là 3/4; dòng lục và dòng bát ngắt nhịp linh hoạt hơn (dòng lục thường ngắt nhịp 2/2/2, dòng bát thường ngắt nhịp 2/2/2/2). - Thanh điệu: Về thanh điệu, thanh bằng (B) - trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định Link tham khảo: Thể thơ Song thất lục bát - PTBĐ biểu cảm là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác. Phương thức biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh. Link tham khảo: Các phương thức biểu đạt trong văn bản
Câu 2
Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. Xem lời giải
Câu 3
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ sau: “Đời người đến thế còn gì! Nước non đến thế còn gì nước non!” Xem lời giải
Câu 4
Thông điệp mà em rút ra được sau khi đọc xong đoạn trích trên? Xem lời giải
Câu 5
Bản thân là một học sinh, em thể hiện tinh thần yêu nước của mình như thế nào? Xem lời giải
|

Xem lời giải





Danh sách bình luận